DK1-Hai mươi năm giữ thềm lục địa: loạt bài giúp hiểu rõ hơn những gian nan, khó khăn, hy sinh, mất mát của các chiến sĩ tại các nhà giàn DK1 nhằm bảo vệ chủ quyền đất nước tại khu vực thềm lục địa phía Nam của tổ quốc. |
đăng 08:01 20-10-2009 bởi Văn Chí Nam
Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng đầy gian khổ
nhưng hết sức vẻ vang của dân tộc. Tự hào về Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, chúng ta tự
hào về anh Lý Tự Trọng, người đoàn viên TNCS đầu tiên.
Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ghi tên anh ngay
ở dòng đầu tiên cùng với câu nói nổi tiếng của anh trước tòa án thực dân: “Con
đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào
khác”.
Hướng về kỷ niệm 95 năm Ngày sinh anh Lý Tự
Trọng là dịp quan trọng để tuổi trẻ hôm nay tìm về cội nguồn cách mạng, tự xác
định cho mình nhiệm vụ kế thừa, phát huy thành quả cách mạng của cha anh, chung
sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tinh thần quả cảm, hình ảnh hiên ngang bước
lên máy chém và lời nói bất tử của anh trước lúc hy sinh in đậm trong trái tim
mỗi đoàn viên, thanh niên chúng ta. Lời nói ấy là bản tuyên ngôn của thế hệ
thanh niên đầu tiên được giác ngộ lý tưởng của Đảng, đã giục giã lớp lớp thanh
niên lên đường đấu tranh tiếp bước cha, anh.
Lý Tự Trọng là người sống có lý tưởng cao đẹp,
lòng trung thành, tinh thần tận tụy và đức hy sinh, quên mình xả thân vì cách
mạng, anh đã hiến dâng cả đời mình cho Tổ quốc cho nhân dân. Tuổi trẻ xem đó là
biểu tượng cao đẹp tiếp sức cho tinh thần cống hiến của tuổi trẻ Việt Nam trong
quá trình tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Noi gương anh Lý Tự Trọng, tuổi trẻ thành phố
mang tên Bác hăng hái xung phong đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi Đảng,
Nhà nước và nhân dân giao phó, không ngại hy sinh gian khổ và dệt nên những
thành tích to lớn góp phần xây dựng quê hương đất nước mến yêu. Điều đó đã khẳng
định bản lĩnh của tuổi trẻ, nối tiếp truyền thống vẻ vang, hào hùng của các thế
hệ cha, anh và thể hiện trách nhiệm của những người chủ tương lai của nước nhà.
Tuổi trẻ vinh dự và hạnh phúc được cống hiến
hoàn toàn, trọn vẹn tài năng, trí tuệ cho Tổ quốc. Đất nước chuyển mình đi lên
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong tất cả các nguồn lực để đáp ứng yêu cầu này
thì yếu tố con người giữ vai trò quyết định - trong đó nguồn nhân lực trẻ được
xem là nhân vật trung tâm. Thanh niên là lực lượng chính trị - xã hội có vai trò
rất quan trọng trong mọi hoạt động xã hội.
Tinh thần quả cảm của anh Lý Tự Trọng giúp
tuổi trẻ Việt Nam ý thức được rằng: Bảo vệ đất nước trong chiến tranh hay xây
dựng đất nước trong thời kỳ mới, đều phải dựa trên sức lực, trí tuệ và tài năng
thực sự của tuổi trẻ, thanh niên cần chọn cho mình một ước mơ hoài bão, lý tưởng
sống cao đẹp, chọn cho mình một tấm gương sáng ngời về khí phách cách mạng để
noi theo.
Noi gương anh, trong bất kỳ hoàn cảnh nào,
tuổi trẻ Việt Nam
cũng chứng tỏ bản chất cách mạng “Đâu Đảng cần thanh niên có, đâu khó có thanh
niên”. Đó là thế hệ thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước thực hiện phong trào “5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ
quốc” và “4 đồng hành cùng thanh niên lập thân, lập nghiệp”.
Noi gương anh Lý Tự Trọng trong giai đoạn cách
mạng mới, lớp lớp đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh lên rừng, xuống biển, với sức trẻ,
sức xuân, với trí tuệ, với bầu máu nóng, với nụ cười và niềm tin ra sức thi đua
tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Cuộc đời anh Lý Tự Trọng mãi mãi là tấm gương
sáng ngời thể hiện khí phách lạc quan, đức kiên cường để tuổi trẻ hôm nay thi
đua học tập, lao động sáng tạo, tình nguyện phấn đấu với mong ước đưa đất nước
Việt Nam
thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu, đuổi kịp cùng các nước phát triển trên thế
giới. Tuổi trẻ Việt Nam
hoàn toàn tự tin vào điều đó và đang ra sức thực hiện bằng tất cả nhiệt huyết
trong con tim mình.
Theo VŨ ANH
TUẤN
(Hiệu
trưởng Trường Đoàn Lý Tự Trọng |
đăng 07:58 20-10-2009 bởi Văn Chí Nam
“Tôi
hành động có suy nghĩ, tôi hiểu việc tôi làm, tôi làm vì mục đích cách mạng. Tôi
chưa đến tuổi trưởng thành thật, nhưng tôi đã đủ trí khôn để hiểu con đường của
thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng, chứ không thể có con đường nào
khác” - lời đồng chí Lý Tự Trọng.
Trong những năm đầu thế kỷ XX, người thanh
niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã bôn ba khắp năm châu bốn biển, đến với chủ
nghĩa Mác-Lênin và tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc. Trong hành trình cứu
nước đó, Người đặc biệt chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng thanh niên - một
lực lượng quan trọng đối với sự thành bại của cách mạng. Người đã trực tiếp bồi
dưỡng, rèn luyện nhiều chiến sỹ cách mạng trẻ tuổi, trong đó tiêu biểu là đồng
chí Lý tự Trọng - người đoàn viên thanh niên cộng sản đầu tiên với câu nói nổi
tiếng trước tòa án kẻ thù: "Con đường
của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, chứ không thể có con đường nào khác”.
Con
đường cách mạng
Lý Tự Trọng tên thật là Lê Hữu Trọng, con trai
cụ Lê Khoan (tức Lê Hữu Đạt), quê ở làng Việt Xuyên - huyện Thạch Hà - tỉnh Hà
Tĩnh và cụ Nguyễn Thị Sờm, quê ở huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh. Do không chịu nổi
ách áp bức bóc lột của bọn thực dân phong kiến, cụ Khoan đã cùng một số bà con
rời quê sang Thái Lan sinh sống và tham gia hoạt động cách mạng. Trong một lần đánh đồn lính Pháp ở biên giới
Lào - Thái Lan, cụ bị nhà cầm quyền Xiêm bắt giam. Ra tù cụ cùng một số đồng
hương đến bản Mạy, tỉnh Nakhonphanom thuộc đông bắc Thái Lan. Lúc đó bản Mạy
đang là nơi đón tiếp các thanh niên yêu nước của quê hương Nghệ Tĩnh sang hoạt
động. Gia đình Lý Tự Trọng là một trong những cơ sở của cách mạng, đây là nơi
bồi dưỡng cán bộ và là trường quốc ngữ của Hội Việt kiều.
Ngay từ nhỏ, Lý Tự Trọng đã tỏ ra là người sớm
hiểu biết, có khả năng học tốt nhiều ngoại ngữ như tiếng Thái, Việt, Anh, Pháp,
Nga; được nuôi dưỡng trong môi trường cách mạng, Lý Tự Trọng sớm hiểu được nỗi
khổ cực của nhân dân ta dưới chế độ cai trị của thực dân phong kiến. Lên 9 tuổi,
Lý Tự Trọng được cha mẹ cho đi học tiếng Xiêm, tiếng Trung Quốc tại trường tiểu
học thị trấn Nakhon. Anh ra sức học tập và nung nấu quyết tâm làm cách mạng.
Cuối năm 1926, Lê Hữu Trọng được tổ chức Việt
Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội chọn sang Quảng Châu - Trung Quốc học tập
và được Bác Hồ đưa vào nhóm “Thiếu niên tiền phong Việt Nam”, một hình thức tổ
chức thanh thiếu niên cộng sản đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Lê Hữu Trọng
được Bác Hồ đổi tên là Lý Tự Trọng (cùng họ với Lý Thụy - tên gọi bí mật của
đồng chí Nguyễn Ái Quốc lúc bấy giờ). Lý Tự Trọng và các thành viên trong nhóm
“Thiếu niên tiền phong Việt Nam” được bồi dưỡng về kiến thức nói chung và đặc
biệt là nhiệm vụ cách mạng Việt
Nam.
Sau đó Lý Tự Trọng được Bác Hồ giới thiệu vào
học tại một trường Trung học của Chính phủ Tôn Trung Sơn ở Quảng Châu. Qua một
thời gian ngắn, Lý Tự Trọng đã thông thạo tiếng Trung và được cử làm liên lạc
cho Tổng bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí
Hội ở Quảng Châu. Vốn thông minh hoạt bát, mưu trí, Lý Tự Trọng đã góp phần tích
cực vào việc liên lạc giữa Tổng bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội
với đảng bạn và cán bộ cách mạng Việt Nam hoạt động tại Trung Quốc, đồng thời tổ
chức việc chuyển thư từ, tài liệu của Đảng về nước.
Đến giữa năm 1929, tình hình cách mạng đã có
chuyển biến mới. Các tổ chức cộng sản ở Việt Nam
lần lượt ra đời. Lý Tự Trọng được cử về nước hoạt động tại Sài Gòn - Chợ Lớn đảm
nhận nhiệm vụ liên lạc trong và ngoài nước cho Xứ uỷ Nam Kỳ; đồng thời Lý Tự
Trọng được giao một nhiệm vụ đặc biệt, vận động tập hợp thanh niên trong các nhà
máy, trường học để thành lập Đoàn thanh niên cộng sản. Mặc dầu công việc hết sức
nguy hiểm, bọn mật thám suốt ngày lùng sục, nhưng nhờ tài trí thông minh, Lý Tự
Trọng đã vượt qua tất cả và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Nhân dịp kỷ niệm
một năm cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Xứ uỷ Nam Kỳ quyết định tổ chức một đợt tuyên
truyền tố cáo các tội ác của thực dân Pháp và kêu gọi quần chúng đấu tranh.

Đoàn cán bộ Đoàn TP.HCM thăm nhà thờ anh Lý Tự Trọng tại Hà Tĩnh
Ngày 8/2/1931, lợi dụng lúc bà con đi xem bóng
đá ở sân vận động Sài Gòn tập trung rất đông, các chiến sỹ cách mạng đã tổ chức
một cuộc mít tinh chớp nhoáng. Cờ đỏ búa liềm dương cao. Một đồng chí đứng lên
diễn thuyết kêu gọi quần chúng đánh đổ thực dân Pháp. Giữa lúc ấy, tên mật thám
Pháp Lơ-gơ-răng và bọn cảnh sát đi cùng đã ập tới. Không còn cách nào khác để
cứu đồng chí mình, Lý Tự Trọng đã rút súng bắn chết tên mật thám cứu thoát đồng
chí diễn thuyết. Bị vây hãm ráo riết, Lý Tự Trọng đã bị bắt. Thực dân Pháp đưa
anh về giam ở bốt Ca - ti - na và tra tấn vô cùng dã man nhưng anh không khai
báo nửa lời, chỉ nói tên anh là Nguyễn Huy. Chúng hỏi ai đưa súng cho anh thì
anh nói là một người lạ mặt cho anh tiền và đưa súng bảo anh bắn. Địch đem tất
cả những người bị bắt sắp hàng trên sân bốt, đưa Lý Tự Trọng ra nhận mặt, anh
nhìn qua một lượt rồi lắc đầu nói: Người ấy không có ở đây.
Một tên phản bội khai ra tên anh là “Trọng
con” và anh làm công tác liên lạc quan trọng. Bọn giặc mừng quýnh tưởng phen này
nắm chắc đến nơi tất cả những đầu mối bí mật của phong trào cách mạng. Đích thân
tên Chánh mật thám Nam Kỳ là Na - đô đến hỏi cung Lý Tự Trọng. Tất cả bọn hung
ác ở Sài Gòn đều giở hết tài tra tấn và dụ dỗ. Cả bọn chủ bóp Bô - lô ở Chợ Lớn
có tiếng là khát máu cũng được đưa đến tra tấn Lý Tự Trọng. Chúng trói tay anh
rút lên xà nhà, cho anh đi “tàu bay”. Dã man nhất, có lần chúng chụp một mũ sắt
lên đầu anh, thứ mũ sắt có bắt đinh ốc đặc biệt, cứ xoáy đinh ốc là mũ kẹp chặt
lấy thái dương, chúng kẹp đến nỗi mắt anh từ từ lồi ra mà anh vẫn thản nhiên
chịu đựng. Chúng áp dụng nhiều đòn tra tấn khác nhưng với anh tất cả đều vô
hiệu.
Giam cầm tra tấn ở khám lớn Sài Gòn một thời
gian không thu được kết quả, bọn chúng đưa anh ra xử án. Run sợ trước phong trào
cách mạng, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương đã mở một phiên toàn đại hình
để xử một chiến sỹ cộng sản Việt Nam chưa đầy 18
tuổi. Lý Tự Trọng đã bị kết án tử hình. Đứng trước cái chết, Lý Tự trọng không
hề run sợ, anh đã chủ động biến phiên toà của đế quốc thành một diễn đàn của
người chiến sĩ cộng sản.
Khi luật sư bào chữa xin bọn thực dân “mở
lượng khoan hồng” vì Lý Tự Trọng chưa đến tuổi trưởng thành, “hành động thiếu
suy nghĩ”, anh đã gạt phắt đi và dõng dạc nói: “Tôi hành động có suy nghĩ, tôi
hiểu việc tôi làm, tôi làm vì mục đích cách mạng. Tôi chưa đến tuổi trưởng thành
thật, nhưng tôi đã đủ trí khôn để hiểu con đường của thanh niên chỉ có thể là
con đường cách mạng, chứ không thể có con đường nào khác”. Khi bộ trưởng thuộc
địa Pháp trực tiếp gặp Lý Tự Trọng và thốt ra những giọng điệu nhân đạo sặc mùi
thực dân: “Tuổi thanh niên ngông cuồng, nước Pháp sẵn sàng tha thứ cho anh. Đối
với những người thông minh chính phủ bao giờ cũng nâng đỡ chỉ cần anh thật thà
hối cải. Nếu muốn anh có thể sang Pháp học để trở về giúp đất nước, tha hồ quyền
cao chức trọng, vợ đẹp con khôn, ăn mặc sung sướng”. Đáp lại giọng giả nhân giả
nghĩa đó của Bộ trưởng thuộc địa Pháp, Lý Tự Trọng đã dõng dạc quát vào mặt hắn:
“Ta sinh ra không phải để ăn thứ cơm ấy”.
Trong những ngày cuối cùng ở xà lim án chém,
Lý Tự Trọng vẫn lạc quan yêu đời, tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng. Mặc
dầu bị xiềng xích nhưng hàng ngày anh vẫn tập thể dục, đọc Truyện Kiều, động
viên các bạn trẻ nêu cao ý chí cách mạng. Thực dân Pháp đã không dám xử công
khai Lý Tự Trọng. Lợi dụng lúc nửa đêm về sáng ngày 21/11/1931, chúng đã hèn hạ
dựng máy chém ở ngay khám lớn Sài Gòn hòng giết anh trong im lặng; nhưng tấm
gương đấu tranh kiên cường anh dũng và những tiếng hô của anh: “Đả đảo thực dân
Pháp”, “Đảng cộng sản Đông Dương muôn năm”, “Cách mạng Việt Nam thành công muôn
năm” đã cổ vũ mạnh mẽ, tạo một làn sóng căm phẫn phản đối tội ác của thực dân
Pháp đối với tù nhân trong khám lớn Sài Gòn. Lý Tự Trọng đã hiên ngang bước lên
máy chém, hát vang bài Quốc tế ca.
Tinh thần cách mạng bất khuất của Lý Tự Trọng
đã làm cho kẻ thù vô cùng khiếp sợ và đã động viên cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách
mạng trong cả nước lúc bấy giờ. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Lý Tự Trọng
tuy ngăn ngủi nhưng anh đã nêu một tấm gương chói lọi cho các thế hệ thanh niên
noi theo. Hình ảnh và chí khí người thanh niên Lý Tự Trọng đã trở thành biểu
tượng hết sức thiêng liêng, cao đẹp trong lòng các thế hệ đoàn viên thanh niên.
Câu nói của anh “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng…” đã
trở thành lý tưởng sống và vũ khí chiến đấu của thanh niên Việt
Nam
từ đó cho đến hôm nay và mãi mãi sau này.
Noi
gương anh Lý Tự Trọng
Noi gương và tiếp bước Lý Tự Trọng, các thế hệ
thanh niên Việt Nam đã đoàn kết một lòng dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng góp phần
làm nên cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, thành lập ra nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược,
lớp lớp thanh niên Việt Nam đã nối tiếp nhau lên đường với ý chí tinh thần
“Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước” đã góp phần
làm nên chiến thắng vĩ đại, dành độc lập tự do cho Tổ quốc và thống nhất đất
nước. Trong cuộc trường kỳ kháng chiến ấy đã xuất hiện nhiều tấm gương tuổi trẻ
kiên cường, dũng cảm tiêu biểu như: Trần Văn Ơn, Võ Thị Sáu, La Văn Cầu, Cù
Chính Lan, Nguyễn Thị Chiên, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện...
Hàng triệu đoàn viên, thanh niên tham gia
phong trào "Ba sẵn sàng" và
“Năm xung phong". Từ hai
phong trào ấy đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân với những chiến công xuất
sắc, như: Bảy dũng sỹ Điện Ngọc - Quảng Nam anh dũng đánh trả một tiểu đoàn
địch; Tạ Thị Kiều tay không đoạt bốt giặc; Lê Thị Hồng Gấm chiến đấu đến hơi thở
cuối cùng không chịu đầu hàng giặc; dũng sỹ diệt Mỹ - Anh hùng Lê Mã Lương với
lẽ sống "Cuộc đời đẹp nhất là ở trên
trận tuyến chống quân thù". Câu nói bất hủ của người thợ điện trẻ tuổi
Nguyễn Văn Trỗi "Còn giặc Mỹ thì không
có hạnh phúc" đã gây xúc động cho tuổi trẻ và nhân dân tiến bộ khắp 5
châu; lời hô của Anh hùng liệt sỹ Nguyễn Viết Xuân "Nhằm
thẳng quân thù mà bắn!" đã trở thành hiệu lệnh thúc giục quân và dân ta
xông lên tiêu diệt quân thù… Họ thật xứng đáng đại diện cho một lớp trẻ "Quyết
tử cho Tổ quốc quyết sinh".
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, tuổi trẻ
Việt Nam luôn luôn là lực lượng xung kích
đi đầu trong học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ những phong trào "Thanh niên
lập nghiệp" và "Tuổi trẻ giữ
nước";
"Thi đua,
tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc",
"Phong
trào Thanh niên
tình
nguyện" và hiện nay là hai
phong trào “Năm xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc” và “Bốn
đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”. Ở mỗi địa phương, đơn vị
đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều những tập thể và cá nhân tiêu biểu
đi đầu trong các lĩnh vực học tập, lao động sản xuất, sáng tạo khoa học công
nghệ và chiến đấu giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Kỷ niệm 95 năm ngày sinh Lý Tự Trọng, ôn lại
công lao to lớn, ý chí kiên cường, tinh thần bất khuất và tấm gương hy sinh quên
mình vì nước, vì dân của người anh hùng trẻ tuổi và các thế hệ tiền bối đã cống
hiến trọn đời cho cách mạng, thế hệ trẻ hôm nay nguyện noi gương anh quyết tâm
học tập, lao động xây dựng quê hương, đất nước ngày càng tươi đẹp.
Hơn bao giờ hết câu nói: “Con đường của thanh
niên chỉ có thể là con đường cách mạng” lại càng thôi thúc chúng ta cố gắng học
tập, đi đầu trong cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật, chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế,
đấu tranh không khoan nhượng những hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội; tin
tưởng, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, nêu cao cảnh giác, đánh bại
chiến lược diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch bảo vệ thành quả cách
mạng. Thế hệ trẻ chúng ta nguyện noi gương anh, sẽ viết tiếp những trang sử vàng
chói lọi của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt
Nam
anh hùng trên những chặng đường mới.
Theo N.T. (Website Thành Đoàn)
|
đăng 18:10 22-05-2009 bởi Văn Chí Nam
Đã 62 năm ngày chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng yên nghỉ trên núi Thiên Ấn, Quảng Ngãi (21.4.1947). Mỗi lần nhắc đến Huỳnh Thúc Kháng, người ta lại nhớ những gì cụ để lại ở hai lĩnh vực: hoạt động dân biểu và báo chí, đặc biệt là bài viết về chủ quyền Hoàng Sa.
Ngày 21.4.1947, cụ Huỳnh Thúc Kháng qua đời tại Quảng Ngãi trong chuyến công tác với tư cách đặc phái viên Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thương tiếc cụ Huỳnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: " Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời Cụ Huỳnh không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu. Cả đời Cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập, đến ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, Chính phủ ta mời Cụ ra. Tuy đã 71 tuổi, nhưng Cụ vẫn hăng hái nhận lời, Cụ nói: "Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng ra sức phụng sự Tổ quốc".
Còn nhớ trong Bài ca lưu biệt viết năm 1908, trước khi bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo, có đoạn kết như dự báo về con đường dấn thân của cụ: "...Ư bách niên trung tu hữu ngã/Dẫu đến lúc núi sụp, biển lồi, trời nghiêng, đất ngả/Tấm lòng vàng, tạc đá vẫn chưa mòn/Trăng kia khuyết đó lại tròn!". 13 năm sau, cụ ra tù và trở thành một dân biểu, một Viện trưởng Viện Dân biểu Trung kỳ suốt 3 năm với những phen đấu tranh không mệt mỏi đòi hỏi dân sinh, dân quyền cho người dân. Cụ còn đứng ra thành lập, làm chủ bút và điều hành tờ báo nổi tiếng Tiếng Dân tại Huế suốt 16 năm, cho đến khi tờ báo bị thực dân đình bản năm 1943 vì những nội dung đứng về quyền lợi dân tộc, phê phán hệ thống thực dân và vua quan bản địa hèn nhát.
3 năm làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung kỳ, hai lần cụ Huỳnh phản kháng trực diện với Khâm sứ Pháp tại Trung Kỳ ngay tại nghị trường. Lần thứ nhất, vào mùa đông 1926 dưới thời Khâm sứ D'Elloy. Trong một thông tư phổ biến tháng 11.1926, D'Elloy đã viết "nhiều lời mạt sát chửi mắng" các dân biểu bản xứ. Cụ Huỳnh thuật lại trong tự truyện: "Tôi lấy tư cách là Viện trưởng, họp với hơn bốn chục dân biểu, đồng thanh phản kháng, vạch từng đoạn trong thông tư, biện bác, cho đăng trên các báo Nam - Bắc, dư luận ồn lên, thành vụ D'Elloy - Huỳnh Thúc Kháng". Tờ phản kháng gửi đi tháng 2.1927. Không bao lâu sau, D'Elloy bị điều về Pháp. Hai năm sau, dưới thời Khâm sứ Jabouille: "Ngày 1 tháng 10 năm ấy (1928) tôi có bài diễn văn bế mạc, chỉ trích gắt gao chính sách của Chính phủ Pháp thi hành tại Trung kỳ, cho là bất hợp tình thế, khiến nhân dân thêm ác cảm, buộc phải cải cách, như tài chính, học chính, hình luật..."... "Khổ trạng nhân dân Trung kỳ nói không hết. Một là học giới bó buộc... Xứ Trung kỳ bây giờ học cũ đã bỏ hẳn, mà học mới trăm phần chưa được một, trường công không đủ dùng, mà trường tư thì không có, gia dĩ chương trình hạn chế, luật lệ ngăn ngừa; dân lấy sự học làm sinh mạng, mà quan xem sự học như một sự thù nghịch. Nhà nước nói khai hóa mà đường học giới không chịu châm chước thì ức vạn thiếu niên An Nam sẽ thất nghiệp... Cái dốt là cái họa của người An Nam" (Theo Huỳnh Thúc Kháng tự truyện). Ngoài giáo dục, cụ Huỳnh còn lên án những chính sách hà khắc với dân về thuế khóa, nạn cường hào, tham nhũng... Những điều ấy đã làm Jabouille bực tức và "bản chức quyết phản kháng lại một cách kịch liệt những điều công kích của ông nghị trưởng". Ngày 2.10.1928, Huỳnh Thúc Kháng đưa đơn từ chức Viện trưởng.
Trên mặt trận báo chí, cụ Huỳnh từng công khai trên số ra mắt Báo Tiếng Dân ngày 10.8.1927 một tuyên ngôn: "Nếu không có quyền nói tất cả những điều mà mình muốn nói, thì ít ra giữ những quyền không nói những điều người ta ép buộc nói" . Xây dựng một tờ báo từ viết bài, định hướng nội dung đến trị sự, khai thác quảng cáo và có cả nhà in riêng ở nước ta như Tiếng Dân cách nay hơn 80 năm, cụ Huỳnh có lẽ là người đầu tiên.
Những ai từng tìm hiểu lịch sử báo chí hẳn không thể quên những bài viết về chủ quyền Hoàng Sa của nước ta trong bài Dấu tích đảo Tây Sa (Paracels) trong lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản Phủ Biên Tạp Lục. Nhà báo Huỳnh Thúc Kháng viết: "Theo các báo cáo ta gần đây sưu tập các tài liệu về đảo Tây Sa để chứng minh thì đảo ấy là phần sở hữu của nước Nam ta, vì chính người Nam đã chiếm trước hết và đã kinh dinh các công cuộc ở đảo ấy...".
Cụ đã liệt kê các tài liệu phong phú: Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, Đại Nam Nhất Thống Chí cả bản trước và bản của Cao Xuân Dục soạn lại, Triều Chính Yếu Thực Lục của hai triều Gia Long - Minh Mạng, Lịch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú hoặc Cống Hạ Ký Văn của Dương Quốc Dung, Mán Hình Thi Thoại và Đông Hành Thi Thuyết của Lý Văn Thức ghi lại trong những chuyến đi Trung Quốc và Lucon (Philippines) năm 1832, Biển Sử Cương Giám của Nguyễn Thông... đều có đề cập đến Hoàng Sa và chủ quyền của nước ta từ thời bấy giờ. Trong đó cụ Huỳnh nhấn mạnh giá trị của Phủ Biên Tạp Lục bởi sự khẳng định chuẩn xác các yếu tố hành chính, địa lý, kinh tế, quân sự của một nhà khoa học uyên thâm... "Sử chép truyện Chúa Nguyễn có đặt đội Hoàng Sa 70 suất thay phiên ra đảo lấy hải vật, đi ba ngày đêm đến đảo, mỗi năm tháng 3 đi, tháng 8 về. Cụ (tức Lê Quý Đôn) lại có chép sao biên bản của Thuyên Ðức Hầu là cai quản đội Hoàng Sa ấy, kể rõ mỗi năm nhặt được thiếc mấy cân, vàng mấy hốt, đồi mồi, yến sào mấy cân, lại có khi nhặt được đồng khí, súng tiền...". Với tư cách một nhà báo - công dân Việt Nam, cụ Huỳnh kết luận: "Vấn đề "quốc tịch đảo Tây Sa" này, nếu trên sân khấu quốc tế, nhận chủ quyền sở hữu của những ai chiếm trước và có tài liệu làm chứng hẳn hoi, như luật điền thổ, khai tài, khai lập nghiệp ở xa, bằng theo lộ tịch và phân thư chúc từ của tiền nhân để lại, tưởng không có nước nào có chứng cứ đầy đủ như nước ta".
Nhắc lại những điều trên đây sau 62 năm ngày mất của chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng để thấy tấm gương "giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan... không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu... Chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập..." của cụ Huỳnh, đặc biệt trong lĩnh vực nghị trường và báo chí, vẫn luôn mang tính thời sự, rất đáng để lớp hậu sinh học tập.
Theo Trương Điện Thắng (Thanh Niên) |
đăng 19:22 23-04-2009 bởi Văn Chí Nam
Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc. Trong đó lãnh thổ và biên giới quốc gia lại là hai yếu tố gắn bó với nhau như hình với bóng, do đó pháp luật quốc tế hiện đại và tập quán quốc tế đều thừa nhận tính bất khả xâm phạm của lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia.
Cho đến đầu thế kỷ 20, pháp luật quốc tế vẫn còn thừa nhận việc dùng vũ lực để xâm chiếm một bộ phận hay toàn bộ lãnh thổ của một nước là hợp pháp. Nhưng ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hiến chương Liên Hợp Quốc được thông qua năm 1945 có điều 2, khoản 4 cấm sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia.
Cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ và quyết liệt của các dân tộc thuộc địa sau chiến tranh thế giới thứ hai mà dân tộc ta là một đội ngũ tiên phong với chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ đã dẫn tới nghị quyết cụ thể và đầy đủ hơn của Liên Hợp Quốc về vấn đề này.
Nghị quyết 1514 ngày 14/12/1960 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về việc trao trả nền độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa đã viết: “Mọi hành động vũ trang và mọi biện pháp đàn áp, bất kể thuộc loại nào, chống lại các dân tộc phụ thuộc sẽ phải được chấm dứt để các dân tộc đó có thể thực hiện quyền của họ về độc lập hoàn toàn một cách hòa bình và tự do, và toàn vẹn lãnh thổ của họ sẽ được tôn trọng”.
Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Liên Hợp Quốc lại viết: “Các quốc gia có nghĩa vụ không được dùng đe dọa hoặc dùng vũ lực để xâm phạm các đường biên giới quốc tế hiện có của một quốc gia khác hoặc như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến các biên giới của các quốc gia”.
“Mọi hành động thụ đắc lãnh thổ bằng đe dọa hoặc bằng sử dụng vũ lực không được thừa nhận là hợp pháp”.
Theo những tài liệu hiện có thì triều đình Việt Nam quan tâm chỉ đạo vấn đề biên giới - lãnh thổ từ khoảng thế kỷ thứ 10 sau khi giành lại quyền độc lập tự chủ với chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938 và ngày càng củng cố nền độc lập tự chủ đó.
Theo Tống sử, Tông Cảo, sứ giả nhà Tống, được phái sang nước ta năm 990 sau chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai năm 981 đã báo cáo rằng khi họ đến “hải giới Giao Chỉ” thì Lê Hoàn (vua Lê Đại Hành) đã phái 9 chiến thuyền và 300 quân lên đón và dẫn họ đến địa điểm quy định. Trong cuốn Lĩnh ngoại đại đáp (1178), Chu Khứ Phi, một viên quan nhà Tống ở Quảng Đông, Quảng Tây, đã viết rằng: dòng nước Thiên Phân Dao là định giới giữa “biển Giao Chỉ” và biển Quỳnh - Liêm (tức vùng biển Quỳnh Châu, Liêm Châu của Trung Quốc).
Như vậy là ngay từ thế kỷ thứ 10 và 12 , sứ thần Trung Quốc và quan lại Trung Quốc đã biết đâu là vùng biển Giao Chỉ (tức Việt Nam), đâu là vùng biển Trung Quốc.
Trong thế kỷ 11 đã diễn ra một số cuộc đàm phán biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc để đòi lại những vùng đất mà Trung Quốc còn chiếm, sau khi phải rút quân trong cuộc chiến tranh xâm lược năm 1076-1077, cuộc chiến tranh đã xuất hiện 4 câu thơ của Lý Thường Kiệt mà hai câu đầu khẳng định chủ quyền lãnh thổ:
Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời).
Trong các cuộc đàm phán đó có cuộc đàm phán về biên giới năm 1078 do Đào Tòng Nguyên dẫn đầu và cuộc đàm phán năm 1084 do Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh dẫn đầu. Trong thư gửi cho vua nhà Tống đòi đất, vua Lý Nhân Tông viết: “Mặc dầu những đất ấy nhỏ bé nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót, luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng.”
Ngoài việc dùng quân sự đánh úp, giải phóng Châu Quang Lang, ngay sau khi đại quân Tống rút lui, đấu tranh kiên trì của triều đình kết hợp với đấu tranh của nhân dân: bắn lén, bỏ thuốc độc cộng thêm khí hậu khắc nghiệt, khiến cho, theo Tống sử, đội quân đồn trú của nhà Tống mỗi năm tổn thất 70%-80%, và năm 1079 mặc dầu đã đổi tên Châu Quảng Nguyên thành Thuận Châu vẫn đành coi là vùng “Đất độc” và trả lại cho ta và năm 1084 trả lại cho ta vùng Bảo Lạc, Túc Tang.
Khi đi đàm phán biên giới, sứ thần ta đã tặng cho nhà Tống 5 thớt voi khiến cho, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, người Tống có thơ rằng: “Nhân tham Giao Chỉ tượng, khước thất Quảng Nguyên kim” nghĩa là: vì tham voi của Giao Chỉ mà bỏ mất vàng của Quảng Nguyên (họ đã đánh giá sai nguyên nhân dẫn đến việc trả lại đất).
Trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí viết năm 1821, Phan Huy Chú nhận xét là trong đàm phán về biên giới đời Lý có hai mặt mạnh: một là có “oai thắng trận”, hai là “sứ thần bàn bạc, lời lẽ thung dung, khôn khéo”.
Nhà Trần đã bố trí các trọng thần phụ trách các hướng biên giới: Tướng quốc Thái sư Trần Thủ Độ phụ trách hướng Lạng Sơn, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật phụ trách hướng Hà Giang, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư phụ trách hướng Đông Bắc (người thay Nhân Huệ Vương là con Hưng Đạo Đại Vương, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng).
Thế kỷ 15, vua Lê Thái Tổ đã cho khắc vào vách núi đá ở Hòa Bình để nhắc con cháu:
“Biên phòng hảo vị trù phương lược
Xã tắc ưng tư kế cửu an”
(Tạm dịch: việc biên phòng cần có phương lược phòng thủ; đất nước phải lo kế lâu dài).
Năm 1473, vua Lê Thánh Tông chỉ thị cho những người đi giải quyết vấn đề biên giới với nhà Minh: “Chớ để họ lấn dần, nếu các ngươi dám lấy một thước núi, một tấc sông tổ tiên để lại mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di”.
Năm 1466, khi quân Minh cướp bóc vùng Thông Nông, Bảo Lạc thuộc tỉnh Cao Bằng, một mặt nhà vua phản kháng đòi nhà Minh phải bồi thường, mặt khác ra lệnh đày 2 người chỉ huy ở Cao Bằng đi xa về tội phòng giữ biên giới không cẩn mật và ra sắc dụ cho các tỉnh biên giới: “Người bầy tôi giữ đất đai của triều đình, chức phận là phải bảo toàn cảnh thổ, yên uỷ nhân dân, bẻ gẫy những mũi nhọn tiến công, chống lại những kẻ khinh rẻ nước mình”
Luật Hồng Đức công bố năm 1483 có điều khoản 74, 88 về bảo vệ đất đai ở biên giới như sau: “Những người bán ruộng đất ở biên cương cho người nước ngoài thì bị tội chém”; quan phường xã biết mà không phát giác cũng bị tội; “Những người đẵn tre, chặt gỗ ở nơi quan ải thì bị xử tội đồ” (đồ là đày đi làm khổ sai).
Chính nhờ cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ, thông minh, khôn khéo của các thế hệ Việt Nam nối tiếp, mặc dầu trong tình hình so sánh lực lượng rất chênh lệch, phong kiến phương Bắc luôn luôn có ý đồ thôn tính, lấn chiếm nhưng biên cương phía Bắc nước ta vẫn hình thành rõ rệt và ổn định về cơ bản từ ngàn năm nay.
Tạp chí Géographer của Vụ tình báo và nghiên cứu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 29/10/1964 thừa nhận: “Sau hơn 10 thế kỷ bị đô hộ, năm 939 Bắc Kỳ phá vỡ ách đô hộ của Trung Quốc và thành lập vương quốc Đại Cồ Việt ... Nhà nước mới này đã bảo vệ được nền độc lập của mình ... Một đường biên giới gần giống như ngày nay dường như đã tồn tại giữa hai quốc gia” cách đây 10 thế kỷ.
Trong bài “Tổng Tụ long và đường biên giới Trung Quốc - Bắc Kỳ” năm 1924, Bonifacy, tư lệnh đạo quan binh Hà Giang đầu thế kỷ 20 viết: “Đường biên giới lịch sử giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được xác định một cách hoàn hảo (parfaitement défini). Khi cần, người Việt Nam biết bảo vệ các quyền của họ, mặc dầu người Trung Quốc cho rằng không thể có đường biên giới giữa Việt Nam và Thiên Triều”.
Điều mà con cháu ngày nay vô cùng cảm kích, khâm phục, biết ơn là ông cha ta chẳng những chăm lo bảo vệ vững chắc biên cương đất liền mà còn rất quan tâm xác lập và bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên vùng biển.
Tiếp theo hành động buộc sứ thần Trung Quốc phải thừa nhận “hải giới” Việt Nam cuối thế kỷ thứ 10, nhà Lý đã thành lập trang Vân Đồn để quản lý vùng biển Đông Bắc; nhà Trần nâng trang Vân Đồn thành trấn Vân Đồn trực thuộc triều đình; nhà Lê đặt tuần kiểm ở các cửa biển để quản lý biển, thu thuế các tàu thuyền nước ngoài. Do vậy chủ quyền Việt Nam trên các đảo vùng biển Đông Bắc được xác lập sớm.
Đến thế kỷ 19, khi Pháp và nhà Thanh đàm phán về vùng biển trong Vịnh Bắc bộ thì không có tranh chấp về chủ quyền đối với các đảo ở vùng này, nhà Thanh phải thừa nhận tất cả các đảo ở phía Tây đường kinh tuyến Paris 105o43' Đông là thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Năm 1171, 1172, vua Lý Anh Tông đích thân đi “tuần tra các hải đảo ngoài biển ở địa giới các phiên bang Nam, Bắc, tìm hiểu đường đi, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật”.
Ở phía Nam, các chúa Nguyễn sau khi xác lập chủ quyền Việt Nam đối với các đảo dọc bờ biển miền Trung và miền Nam: Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, đầu thế kỷ 18 đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên các đảo trong Vịnh Thái Lan. Khi đặt ách thống trị trên Nam Kỳ và Campuchia, các quan chức Pháp đã tiến hành khảo sát vùng biển giữa hai nước Việt Nam, Campuchia và đứng trước tình hình tất cả các đảo trên vùng biển này về mặt hành chính đều thuộc tỉnh Hà Tiên của Việt Nam.
Ngày 25-3-1873 chuẩn đô đốc thống đốc Nam Kỳ Krantz đã thừa nhận thực tế đó trong nghị định quy định đảo Phú Quốc và tất cả các đảo trên vùng biển giữa Nam Kỳ và Campuchia được tách khỏi tỉnh Hà Tiên, lập thành một quận trực thuộc Thống đốc Nam Kỳ.
Đối với các đảo xa bờ, theo chính sử Việt Nam và theo nhiều nhân chứng nước ngoài, từ thế kỷ 17, các chúa Nguyễn với danh nghĩa Nhà nước đã thành lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải hàng năm ra khai thác và quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tiếp đó triều Nguyễn rất quan tâm đến việc củng cố chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo. Các hoàng đế Gia Long, Minh Mạng liên tiếp phái thủy quân ra Hoàng Sa - Trường Sa khảo sát, đo đạc, vẽ bản đồ, lập miếu, dựng bia. Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên, trong 3 năm: 1833, 1835, 1836 vua Minh Mạng liên tiếp có chỉ thị về Hoàng Sa.
Không chỉ chăm lo khai thác hai quần đảo, nhà vua Việt Nam còn lo bảo đảm an toàn cho tàu thuyền Việt Nam và các nước qua lại vùng biển xung quanh hai quần đảo. Năm 1833 vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công rằng: “Trong hải phận Quảng Nghĩa, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu; không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị nạn. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm phái người tới đó trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối xanh tốt, người dễ nhận biết, có thể tránh được nạn mắc cạn”.(1)
Trong một tài liệu viết năm 1768, Đô đốc Pháp D’Estaing, người nhận nhiệm vụ nghiên cứu kế hoạch tiến công vào Việt Nam đã viết rằng: “Việc đi lại giữa quần đảo đá Paracel (tức Hoàng Sa) và đất liền còn khó khăn hơn việc đi lại ngoài biển khơi. Thế mà các thuyền nhỏ của xứ này thường qua lại vùng quần đảo”. D’Estaing đánh giá các thủy thủ Việt Nam là “những người quen sông nước và là các thủy thủ giỏi”. Trong một tài liệu khác viết vào cuối năm 1758 đầu năm 1759, D’Estaing còn nói ở Huế có tới 400 khẩu pháo hầu hết là của Bồ Đào Nha thu lượm từ các xác tàu đắm ở Paracel.
Trong cuốn Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa xuất bản ở Paris năm 1996, giáo sư Monique Chemillier Gendreau, chủ tịch Hội luật gia Châu Âu đã viết: “Khi có Hiệp ước bảo hộ của Pháp năm 1884, Việt Nam đã nắm giữ không có cạnh tranh và trong khoảng gần hai thế kỷ, một quyền (un droit) đối với các quần đảo (Hoàng Sa, Trường Sa), theo đúng chế độ luật pháp của thời kỳ đó”.
Từ 1884, Chính quyền Pháp ở Đông Dương đã tiếp tục thực hiện và củng cố chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo: tiến hành khảo sát khoa học, dựng bia chủ quyền, dựng đèn biển, lập trạm khí tượng, đài vô tuyến điện, đưa quân ra đồn trú, thành lập đơn vị hành chính trên quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên và sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.
Sau thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, nước Việt Nam giành lại được độc lập thống nhất hoàn toàn, vấn đề bảo vệ biên giới, bảo vệ lãnh thổ toàn vẹn của tổ quốc mới lại hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của nhà nước Việt Nam.
Năm 1954, Bác Hồ nói ở đền Vua Hùng: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” và năm 1961, mặc dầu mới có một nửa nước được giải phóng, Bác Hồ đã nói: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Bác Hồ đã chỉ thị cho chúng ta phải nhận thức rõ tình hình mới, phải chăm lo bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Sau này, tuân theo chỉ thị của Bác Hồ, Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã khẳng định lãnh thổ Việt Nam “bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời” và ‘Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm”.
Trong bối cảnh địa lý và chính trị của nước ta sau năm 1975 , trước sự phát triển của luật pháp quốc tế về biển, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phải giải quyết một loạt vấn đề biên giới - lãnh thổ với các nước láng giềng:
1. Giữa Việt Nam, Lào, Campuchia cần có một đường biên giới có giá trị pháp lý quốc tế do các nhà nước có thẩm quyền ký kết, tạo ra cơ sở vững chắc để xây dựng một đường biên giới hữu nghị lâu dài giữa ba dân tộc.
2. Việt Nam cần xác định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa với Indonesia, Thái Lan, Malaysia; vì theo các quy định mới của luật biển quốc tế thì vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của nước ta và các nước đó chồng lên nhau.
3. Việt Nam cần giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ trên biển với Philippin, Malaysia vì hai nước này có yêu sách về chủ quyền đối với một phần hoặc đại bộ phận quần đảo Trường Sa.
4. Với Trung Quốc, Việt Nam phải giải quyết các vấn đề sau:
- Đường biên giới trên đất liền;
- Đường biên giới trong Vịnh Bắc bộ;
- Các vấn đề chủ quyền lãnh thổ và thềm lục địa trên Biển Đông: từ năm 1909 Trung Quốc bắt đầu có tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và từ những năm 1930 bắt đầu có hành động tranh chấp quần đảo Trường Sa.
- Vấn đề ranh giới vùng thông báo bay (FIR) ngoài khơi Trung bộ - Việt Nam, Trung Quốc đưa ra đề nghị lập FIR Sanya lấn vào phần phía Bắc FIR Hồ Chí Minh mà Hàng không dân dụng quốc tế giao cho Hong Kong tạm thời quản lý năm 1975 chủ yếu là họ muốn quản lý toàn bộ vùng trời trên quần đảo Hoàng Sa và lấn vào phần phía Đông FIR Hà Nội trên Vịnh Bắc Bộ.
Theo LÊ MINH NGHĨA (*) Cố Trưởng ban Ban Biên giới của Chính phủ CHXHCNVN |
đăng 19:19 23-04-2009 bởi Văn Chí Nam
Đội Hoàng Sa sử dụng các loại thuyền buồm nhẹ và nhanh. Theo J. Barrow viết trong A voyage to Cochinchina thì các tàu thuyền xứ Đàng Trong dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới thu lượm hải sản và tổ yến trong nhóm quần đảo gọi là Paracels thuộc nhiều kiểu dạng khác nhau.
Cũng theo cuốn du ký Suma Oriental của Tomé Pires người Bồ Đào Nha, được A. Cortesas dịch với nhan đề The Suma Oriental, an account of the East, from the Red Sea to Japan, xuất bản tại London năm 1944, khoảng những năm 1513 - 1514 kể lại cuộc hành trình và những nhận xét của tác giả về các miền đất đã đi qua ở Phương Đông từ Biển Đỏ cho tới Nhật Bản, trong đó có tả vương quốc Cauchy - chyna tức Đàng Trong nước Đại Việt thời Lê - Mạc. Tác giả cho biết có rất nhiều cư dân khai phá vùng bờ biển với một số lớn các “lancharas”, một loại thuyền buồm đi nhanh.
Trong các tài liệu cổ của Việt Nam đã dẫn trên cho biết đội Hoàng Sa chèo năm chiếc thuyền câu nhỏ gọi là “tiểu điếu thuyền” (Phủ Biên Tạp Lục) hay “tiểu thuyền” (Dư Địa Chí và Hoàng Việt Địa Dư Chí). Thích Đại Sán trong Hải Ngoại Kỷ Sự, cũng viết “Thời quốc vương trước, hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền buôn tấp vào. Mùa thu nước ròng cạn, chảy rút về hướng Đông, bị một ngọn sóng đưa thuyền đi có thể trôi xa cả trăm dặm; sức gió dâng mạnh, sợ có hiểm họa Trường Sa...”.
Thích Đại Sán cũng nói thuyền đánh cá ấy gọi là thuyền điếu xá. Chính chúa Nguyễn Phúc Chu cũng đã cho thuyền điếu xá (thuyền đánh cá) đón tiếp đệ tử và vật phẩm của Thích Đại Sán đến sau tại đảo Tiên Bích Sa (cù lao Chàm). Khi Thích Đại Sán rời Quảng Đông đi bằng loại thuyền lớn, chứa tới bốn trăm người phải dùng cả 2 chiếc thuyền nhỏ dẫn đường. Tuy thuyền đi mau như bay nhưng có lần bị mắc cạn, có lần suýt bị nạn vì không theo lối thuyền con chỉ dẫn.
Thuyền đánh cá thế kỷ XVII, XVIII ở nước Đại Việt được làm giản dị nhất là ở khu vực Sa Kỳ, cù lao Ré. Theo tài liệu được lưu lại ở đảo cù lao Ré mà ông Nguyễn Hạp xuất thân từ gia đình ngư dân lâu đời ở cù lao Ré đã vẽ, thì thuyền loại này có mê hay đáy dưới bằng tre đan, trát phân trâu, rồi quét dầu rái lên. Song phía trên thành thuyền làm bằng gỗ chò hay sao, có 3 cột buồm bằng gỗ kiền kiền và các bộ phận không quan trọng như các then thì làm bằng gỗ mù u có sẵn ở địa phương. Chính dân chài tự đóng thuyền lấy. Tuy nhỏ song lại nhẹ dễ chạy nhanh và thường chạy bằng buồm, có loại buồm như Thích Đại Sán kể giống chiếc rìu.
Nhỏ, nhẹ, ít người lại chọn thời điểm thuận gió thì thuyền đi nhanh gấp 10 lần như Thích Đại Sán ghi chép như trên. Thường thuyền ở vùng cù lao Ré - Sa Kỳ có 3 cánh buồm đan bằng lá, các dụng cụ như lu chứa nước đều bằng tre. Gần đây ở cù lao Ré còn thấy một vài thuyền đánh cá có cấu trúc tương tự như những thuyền truyền thống xưa của vùng này, đi biển xa như Hoàng Sa.
Sự thực lịch sử đã cho biết các thuyền đánh cá Việt Nam với vật liệu nhẹ như trên, nhỏ bé đã dễ dàng né tránh các đá san hô cũng như dễ dàng cập được vào bờ các đảo san hô ở Hoàng Sa và cũng thích hợp hoàn cảnh dân chài biển vùng Sa Kỳ - cù lao Ré, đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình.
Địa bàn hoạt động của đội Hoàng Sa có không gian rất rộng. Khởi đầu là những đảo gần bờ biển nhất. Song trong 6 tháng hàng năm từ năm này qua năm khác, đội Hoàng Sa mở rộng phạm vi hoạt động khắp các đảo san hô ở biển Đông gồm quần đảo Hoàng Sa và kiêm quản đội Bắc Hải ở Trường Sa bây giờ.
Nếu các đảo phía Bắc gần phủ Liêm Châu, Hải Nam (Trung Quốc) thì các đảo ở phía Nam tiếp tới là Côn Lôn, Hà Tiên. Dù chính đội Hoàng Sa không đi khắp nơi song do kiêm quản các đội khác (như đội Bắc Hải) nên nó là đầu mối thâu tóm mọi hoạt động trong phạm vi rất rộng: khắp các đảo biển Đông chạy dài ngoài khơi dọc các tỉnh miền Trung bộ Việt Nam, khoảng Quảng Trị, Thừa Thiên, từ phía Tây Nam đảo Hải Nam xuống tới vùng Trường Sa hiện nay.
Về nhiệm vụ, đội Hoàng Sa cần phải làm những công việc sau: (1) thu lượm các sản vật từ các tàu đắm, các hải sản quý từ vùng biển phía Bắc quần đảo Hoàng Sa (phía Nam tức phần Trường Sa hiện nay do đội Bắc Hải phụ trách) và (2) kiêm quản, trông coi đội khác cùng làm nhiệm vụ song ở địa bàn khác như đội Bắc Hải ở phía Nam (Phủ Biên tạp Lục, quyển 2, Đại Nam Thực Lục Tiền Biên quyển 10, Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6…).
Ngoài ra, về sau còn đảm trách đi xem xét, đo đạc thủy trình vùng quần đảo Hoàng Sa. Nhiệm vụ này bắt đầu thời Gia Long mới được ghi (Đại Nam Thực Lục Tiền Biên đệ nhất kỷ, quyển 50, quyển 52). Riêng về nhiệm vụ dọ thám, canh giữ ngoài biển, trình báo về các bọn cướp biển thì đơn xin phường An Vĩnh tách khỏi xã An Vĩnh ngày 1 tháng 2 năm Gia Long thứ 3 (1804) đã đề cập đến ở trên đây, chứng tỏ người dân đã tha thiết tự thấy có nhiệm vụ này.
Đương nhiên khi dân binh tình nguyện thì nhà nước dễ chấp nhận vì nhà nước không phải tốn công đứng ra tổ chức, vả lại tính chất bán quân sự của đội Hoàng Sa đương nhiên phù hợp với nhiệm vụ này. Như thế nhiệm vụ của đội Hoàng Sa rất nặng nề, không thuần túy về kinh tế, khai thác tài nguyên mà còn làm công tác quân sự và quản lý biển đảo. Công việc này rất quan trọng trong thời các chúa Nguyễn và thời kỳ đầu nhà Nguyễn.
Trong công việc khai thác tài nguyên, đội Hoàng Sa đã thu lượm nhiều hải vật quý lạ ở Hoàng Sa như hải sâm, ốc hoa, ốc tai voi có chiếc lớn như chiếc chiếu, bụng có châu ngọc lớn như ngón tay trẻ em, sắc đục không bằng sắc con trai châu song vỏ ốc có thể tách ra từng phiến, cũng có thể dùng vỏ ốc làm thành vôi; có thứ ốc xà cừ, người ta có thể dùng để dát các đồ dùng; có con đại mạo hay đại mội, tức con đồi mồi rất lớn hay con hải ba (ba ba biển tục gọi là con trắng bông, cũng giống như con đồi mồi, nhưng nhỏ hơn). Những hải sản quý trên tuy cũng có nộp cho nhà vua theo quy định, song vẫn cho đội Hoàng Sa bán, thường thì bán cho thị trường Hội An - nơi tiêu thụ nhiều và có giá hơn.
Quan trọng hơn là các hàng hóa từ các tàu đắm mà Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư viết rằng hàng hóa thu được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng ống. Phủ Biên Tạp Lục thì ghi: những đồ hải vật như gươm và ngựa bằng đồng hoa bạc, tiền bạc, vàng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ.
Lê Quý Đôn hồi làm Hiệp Trấn Thuận Hóa trong Phủ Biên Tạp Lục có cho biết, trong sổ biên của cai đội Thuyên Đức Hầu, người chỉ huy đội Hoàng Sa trong nhiều năm, đã vào Phú Xuân nộp các sản vật thu lượm được từ Hoàng Sa cụ thể như sau:
- Năm Nhâm Ngọ (1702), đội Hoàng Sa lượm được 30 thoi bạc.
- Năm Giáp Tuất (1704), lượm được 5100 cân thiếc.
- Năm Ất Dậu, lượm được 126 thoi bạc.
Còn từ năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Quý Tỵ (1713), tức là trong khoảng 5 năm, thỉnh thoảng họ cũng lượm được mấy con đồi mồi và hải sâm. Cũng có lần họ chỉ lượm được mấy khối thiếc, mấy cái bát đá và hai khẩu súng đồng. Chính P. Poivre viết trong du ký năm 1750 rằng: “Người ta đã thấy ở đô thành Huế những khẩu súng thần công bằng sắt cỡ đạn 6 livres, có trang trí chữ ghi của Công ty Đông Ấn Hà Lan, những khẩu súng này đã thu lượm được ở quần đảo Paracels, trong số các di vật của các tàu đi qua đây bị đắm” (Journal R.E.O, III, 1885).
Chắc chắn trong thời còn chiến tranh, súng đạn thu được ở các tàu đắm ở Hoàng Sa là rất quý giá. Việc đi biển xa (viễn dương) khiến các thành viên đội Hoàng Sa rất giỏi đi biển. Từ thời Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị thủy quân hoạt động mạnh ở Hoàng Sa cũng đều nhờ những người hướng dẫn hải trình là những dân đi biển giỏi trong đó có dân binh đội Hoàng Sa. Chính vì thế, các thuyền thuộc lực lượng thủy quân triều Nguyễn từ kinh thành Huế trước khi ra Hoàng Sa phải tới tập trung ở Quảng Ngãi.
“Lính Hoàng Sa đi dễ, khó về”
Với nhiệm vụ nặng nề, công việc nguy hiểm, biển khơi ẩn chứa nhiều tai họa khó lường trong khi phương tiện thời đó lại khá thô sơ, những người lính trong đội Hoàng Sa thời đó hầu như thường phải đối mặt với sự hy sinh, với cái chết. Chính vì vậy nên ngoài lương thực, nước uống, họ còn mang theo một đôi chiếu, 7 sợi dây mây (hay cây ré), 7 cái đòn tre.
Nếu chẳng may có mệnh một ở giữa biển thì dùng chiếu ấy quấn xác, đòn tre dùng làm nẹp và lấy dây mây bó lại rồi thả xuống biển. Chiếc thẻ tre nhỏ ghi rõ tên tuổi, quê quán, phiên hiệu đơn vị của người mất được cài kỹ trong bó chiếu, cũng là dấu hiệu nhận biết nếu có ai vớt được. Quả thật họ đúng là những chiến sĩ dũng cảm, vì nước quên thân, được nhân dân luôn tôn vinh, tưởng nhớ.
Tại xã An Vĩnh, nay thuộc thôn An Vĩnh, xã Tự Kỳ hiện còn di tích một ngôi miếu ở cạnh cửa biển Sa Kỳ là ngôi miếu Hoàng Sa thờ lính Hoàng Sa và thờ bộ xương con cá voi (tương truyền do binh Hoàng Sa đưa từ Hoàng Sa về) - ngôi miếu này bị phá hủy trong thời kỳ chiến tranh và bộ xương cá voi thần linh ở miếu này được chuyển sang thờ tại lăng Thánh, ngay cạnh ngôi miếu xưa.
Tại cù lao Ré hiện vẫn còn Âm Linh Tự tức miếu Hoàng Sa, ở thôn Tây xã Lý Vĩnh, tức phường An Vĩnh xưa và Âm Linh Tự ngoài trời ở xã Lý Hải tức phường An Hải xưa. Cũng tại xã An Vĩnh và cả làng An Hải (cả đất liền lẫn ngoài đảo cù lao Ré) có tục tế đình và làm lễ khao quân tế sống để tiễn lính đội Hoàng Sa lên đường làm nhiệm vụ hàng năm vào ngày 20 tháng 2 âm lịch, tại các đình làng. Hiện nay chỉ còn đình làng xã Lý Hải, tức phường An Hải xưa.
Lính Hoàng Sa được tế sống vì nhiệm vụ quá nguy hiểm: “lính Hoàng Sa đi dễ khó về”. Trừ các chỉ huy như đội trưởng, thuyền trưởng, các lính thường lấy trai tráng chưa có gia đình, vừa khỏe mạnh vừa không vướng vợ con. Tại thôn An Vĩnh thuộc xã Tự Kỳ hoặc tại đảo cù lao Ré có nhiều gia đình còn gia phả và bàn thờ những người đi lính Hoàng Sa như nhà ông Phạm Quang Tỉnh ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh có nhà thờ (hình 2. 54) và gia phả ông tổ Phạm Quang Ảnh, người được vua Gia Long cử làm đội trưởng đội Hoàng Sa năm 1815.
Trong buổi tế sống lính Hoàng Sa đó, họ làm những hình nộm bằng khung tre và dán giấy ngũ sắc để giả hình người và đem tế tại đình. Tế xong họ đốt đi, hoặc đóng thuyền bằng thân cây chuối đặt hình nộm lên và thả trôi ra biển gọi là “khao lễ thế lính Hoàng Sa” còn gọi là “lễ tế sống lính Hoàng Sa” với quan niệm các hình nộm kia sẽ gánh chịu mọi hiểm nguy, tai nạn trên biển thay cho đội Hoàng Sa và cầu mong cho người thân của họ bình an trở về.
Ngày nay tại các nhà thờ tộc họ có người đi lính Hoàng Sa đều có tổ chức tục lễ như thế và hiện tại gia đình các tộc họ cũng còn giữ bài Văn khao thế lính Hoàng Sa gồm một nửa chữ Hán, một nửa chữ Nôm có đoạn: “Ngày hôm nay (hoặc đêm nay, buổi sáng nay) có theo ý người… ở tỉnh… nước Đại Nam, xin cúng thế một cỗ thuyền mô hình, trôi theo đường thủy Hoàng Sa, mấy cỗ bàn, vàng bạc, đáp lễ thần quan, xin dâng lên khảo thủy đạo một tiệc, thành kính bày lễ la liệt...” Văn tế do ông Nguyễn Xuân Cảnh, 72 tuổi, thôn Tây, xã Lý Hải, huyện Lý Sơn cất giữ.
Theo N.N. (Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam)
|
Đội Bắc Hải
Đội Bắc Hải hoạt động dưới sự kiêm quản của đội Hoàng Sa trong khu vực phía Nam của biển Đông tức quần đảo Trường Sa và vùng phụ cận.
Dưới thời Đại Việt, Chúa Nguyễn cai quản Nam Hà, dần dần tìm ra các đảo san hô hết sức rộng ở biển Đông. Do vậy, ngoài đội Hoàng Sa, còn thành lập thêm đội Bắc Hải để khai thác, quản lý các đảo này. Tuy nhiên, các chúa Nguyễn vẫn để đội Hoàng Sa kiêm quản để có một đầu mối, hầu có thể dễ dàng nắm tình hình ở biển Đông. Như vậy, cai đội Hoàng Sa đồng thời kiêm quản đội Bắc Hải.
Về thời điểm ra đời của đội Bắc Hải, các tài liệu hiện còn không cho biết chính xác. Chỉ biết chắc chắn là đội Bắc Hải ra đời sau đội Hoàng Sa và trước năm 1776 - tức là trước khi Lê Quý Đôn viết Phủ Biên Tạp Lục, trong đó lần đầu tiên đề cập đến hải đội này.
Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 của Lê Quý Đôn đã ghi chép rất cụ thể về đội Bắc Hải như sau:
“Họ Nguyễn còn thiết lập một đội Bắc Hải. Đội này không định trước bao nhiêu suất. Hoặc chọn người thôn Tứ Chính (ở gần bờ biển) thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn người làng Cảnh Dương lấy những người tình nguyện bổ sung vào đội Bắc Hải. Ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm công tác”.
“Những người được bổ sung vào đội Bắc Hải đều được miễn nạp tiền sưu cùng các thứ tiền lặt vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua đò.” Không thấy nói miễn tiền thuế.
Đội Bắc Hải hoạt động trên vùng biển phía Nam, ở quần đảo Trường Sa hiện nay) và cả Côn Lôn, Hà Tiên để tìm kiếm, lượm nhặt những hạng đại mội, hải ba, đồn ngư (cá heo lớn như con heo), lục quý ngư, hải sâm (con đỉa biển)”. Ở phía Nam Biển Đông (khu vực Trường Sa hiện nay) ít có bão lớn, không nguy hiểm, ít có vụ đắm tàu nên rất ít thu lượm được các sản vật từ tàu đắm như vàng bạc, súng ống mà chủ yếu là hải sản, đặc biệt là loại cá heo (đồn ngư)...
Đội Bắc Hải được các tài liệu ở các thời gian sau (thế kỷ XIX) tiếp tục ghi chép. Đại Nam Thực Lục Tiền Biên soạn xong năm 1844 chép rằng đội Bắc Hải mộ dân thôn Bình Thuận, Tứ Chính hoặc xã Cảnh Dương, được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo ở Bắc Hải lượm hóa vật, cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản. Đại Nam Nhất Thống Chí quyển 6, tỉnh Quảng Ngãi, soạn xong năm 1882 cũng còn viết “đội Bắc Hải ra đảo Côn Lôn tìm lấy hải vật cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”. Không có tài liệu nào cho biết đội Bắc Hải ngưng hoạt động trước hay sau đội Hoàng Sa.
(Trích từ “Trường Sa, mảnh đất thiêng của Việt Nam” báo Thanh Niên ngày 1-1-2008)
NGUYỄN NHÃ Tiến sĩ sử học | |
đăng 19:18 23-04-2009 bởi Văn Chí Nam
Trước năm 1909, Trung Quốc cũng như các nước khác ở Đông Nam Á không có bằng chứng nào minh chứng họ quan tâm đến việc xác lập chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong khi đó, suốt trong ba thế kỷ từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX, một tổ chức dân binh Việt Nam là đội Hoàng Sa đã hoạt động tại Hoàng Sa và Trường Sa, vừa có nhiệm vụ kiểm soát, vừa khai thác tài nguyên ở các hải đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa.
Cái nôi của đội Hoàng Sa là xã An Vĩnh ở một bên bờ cửa biển Sa Kỳ thuộc huyện Sơn Tịnh, và phía Bắc là xã An Hải thuộc huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Xã An Vĩnh gồm đất liền ở cửa biển Sa Kỳ và phường An Vĩnh. Xã An Hải gồm cả phường An Hải ở cù lao Ré mà đến đời Gia Long thứ 3 (1804) mới tách ra. Tại phía Nam cửa biển Sa Kỳ hiện còn di tích Vườn Đồn, nơi là đồn biển Sa Kỳ xưa. Tại đây cũng còn di tích miếu Cá Ông và di tích đình của xã An Vĩnh xưa (nay là thôn An Vĩnh, xã Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi).
Vùng cửa biển Sa Kỳ không có sông chảy ra nên không có hiện tượng cát bồi, có độ sâu tương đối tốt để làm cảng (thuyền) thời bấy giờ. Vì thế, hai bên cửa biển thuận lợi cho dân cư sinh sống, nhất là bờ phía Nam, xã An Vĩnh, sống về nghề biển và cả nông nghiệp, cách phủ lỵ Quảng Ngãi gần 30 km. Bờ phía Bắc thuộc xã An Hải, ít trù phú, ít dân cư hơn. Tuy nhiên nói chung, dân vùng cửa biển Sa Kỳ, cũng như dân Cù Lao Ré rất giỏi nghề đi biển xa mà thời nay gọi là “viễn dương”; họ không chỉ đi tìm những hải sản quý như hải sâm, ốc tai tượng ở vùng kế cận cù lao Ré mà còn muốn đến những vùng biển xa để khai thác.
Hoàng Sa với đầy ắp những hải vật quý lạ tất sẽ có sức hút họ đi tới đó. Nghề biển ở vùng này còn có được một thuận lợi là dễ dàng được cung cấp các vật liệu làm thuyền buồm như tre, lá, gỗ, kể cả gỗ kiền kiền làm cột buồm từ vùng rừng núi Quảng Ngãi, Quảng Nam ở cách không xa.
Về mặt vị trí địa lý, vùng Sa Kỳ - cù lao Ré lại là nơi nhô ra Biển Đông xa nhất. Do vậy, cũng như dân đất liền thời mở cõi ấy, dân vùng này được chính quyền thời Chúa Nguyễn tín nhiệm giao trọng trách khai khẩn tới đâu quản lý tới đó.
Ngoài ra, do hoàn cảnh lịch sử của xứ Đàng Trong, muốn tồn tại, từ thời Nguyễn Hoàng đã nghĩ đến phát triển giao thương ra biển khơi, tạo điều kiện phát triển mạnh đô thị giao thương quốc tế Hội An với sự có mặt của người Nhật, Trung Quốc, nhất là người phương Tây (mà từ đầu thế kỷ XVI họ đã phát triển giao thương về phương Đông, khi thiết lập được các thương điếm từ Malacca đến Macao).
Trận thủy chiến với người Hà Lan (hợp tác với quân Trịnh) ở gần cửa Thuận An thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã thúc đẩy xứ Đàng Trong phải có kế hoạch thường xuyên thu lượm không những hải sản quý mà còn sản vật do đắm tàu, nhất là súng ống để tăng cường sức mạnh trong cuộc chiến tranh với họ Trịnh ở Đàng Ngoài.
Đó là những lý do khiến cù lao Ré - cửa biển Sa Kỳ là cái nôi ra đời của đội Hoàng Sa.
Về thời gian ra đời của đội Hoàng Sa, các sử sách Việt Nam và của cả Trung Quốc đều chép đội Hoàng Sa được thành lập vào đầu thời chúa Nguyễn. Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán (Trung Quốc) viết năm 1696, chép “thời quốc vương trước” đã có những hoạt động của đội “Hoàng Sa” và Phủ Biên Tạp Lục viết năm 1776, chép “Tiền Nguyễn Thị”. Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (1821) chép “quốc sơ trí Hoàng Sa”.
Tuy nhiên việc thành lập đội Hoàng Sa phải có trước hoặc trong thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), tức là trước hoặc trong thời điểm ra đời cuốn sách Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (năm 1686), cuốn sách đã bắt đầu chép các hoạt động ở Hoàng Sa. Đó là khoảng thời gian mà các chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) Nguyễn Phúc Tần cai trị.
Ngoài ra, như ta đã biết ở trên, Phủ Biên Tạp Lục cũng như các tài liệu khác đều cho biết đội Hoàng Sa khi trở về đất liền vào tháng tám âm lịch vào cửa Eo hay Tư Hiền rồi nộp sản vật tại chính dinh ở Phú Xuân. Từ thời Nguyễn Phúc Nguyên tuy không còn ở Ai Tử, Quảng Trị nữa mà mới vào vùng Phước Yên, Quảng Điền, bên bờ sông Bồ, chi nhánh của sông Hương, song chính dinh chưa tới Phú Xuân. Thời chúa Nguyễn Phúc Lan mới bắt đầu dời chính dinh đến Kim Long vào năm Dương Hòa năm đầu (1635) và thời chúa Nguyễn Phúc Tần mới dời qua Phú Xuân.
Như thế, chúng ta có cơ sở để kết luận đội Hoàng Sa ra đời sớm nhất từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), hay chắc chắn hơn là từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), bởi chính vào thời kỳ này, các thuyền của đội Hoàng Sa mới đi vào cửa Eo (Thuận An ) và nộp sản vật tại chính dinh Phú Xuân. Nhưng dù ở thời Chúa Nguyễn nào thì thời điểm lập ra đội Hoàng Sa cũng chắc chắn ít ra là vào nửa đầu thế kỷ XVII, hoặc nói như sử sách vào đầu thời chúa Nguyễn.
Đội Hoàng Sa đã hoạt động kể từ chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn Phúc Tần đến hết thời kỳ chúa Nguyễn, cả thảy 7 đời chúa, gần một thế kỷ rưỡi. Phong trào Tây Sơn nổi dậy, Chúa Nguyễn chạy vào đất Gia Định thì đội Hoàng Sa đặt dưới quyền kiểm soát của Tây Sơn mà trong tài liệu còn lưu giữ tại nhà thờ họ Võ tại phường An Vĩnh, cù lao Ré đã cho biết năm 1786 tức Thái Đức năm thứ 9, dân cù lao Ré đã xin chính quyền Tây Sơn cho đội Hoàng Sa hoạt động trở lại.
Đến những năm cuối cùng của Tây Sơn, hoạt động của đội Hoàng Sa cũng bị ảnh hưởng, nên đến khi Gia Long năm thứ 2 (1803) mới cho đội Hoàng Sa hoạt động trở lại như Đại Nam Thực Lục Chính Biên, quyển XXII đã ghi rõ: “cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”. Năm 1815, vua Gia Long sai đội Hoàng Sa đi đo đạc thủy trình ở Hoàng Sa.
Từ năm 1816, vua Gia Long bắt đầu cử thủy quân cùng với đội Hoàng Sa lo việc kiểm soát, đo đạc thủy trình ở Hoàng Sa. Đội Hoàng Sa trở thành tổ chức mang tính dân sự nhiều hơn. Theo truyền thống, dân cù lao Ré vẫn tiếp tục đi biển trong đó có vùng Hoàng Sa có nhiều sản vật quý. Không có một văn bản nào ghi lại việc quyết định bãi bỏ đội Hoàng Sa ngoài Việt Sử Cương Giám Khảo Lược soạn năm 1877 của Nguyễn Thông cho biết đội Hoàng Sa bị bãi bỏ từ lâu, trước năm soạn cuốn sách này (1877).
Thời Tự Đức, người ta không thấy biên niên sử còn chép các hoạt động của đội Hoàng Sa, vì theo phàm lệ của Đại Nam Thực Lục đệ tứ kỷ chép vào đời Tự Đức, những việc thành lệ thường không được chép nữa mà thôi. Những hoạt động của đội Hoàng Sa cũng như thủy quân từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836) đã trở thành lệ thường, như đã chép trong sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ.
Tóm lại tuy không biết thời gian chính xác đội Hoàng Sa đã ngưng hoạt động, chỉ biết vào năm 1877, khi Nguyễn Thông viết sách Việt Sử Cương Giám Khảo Lược thì đội Hoàng Sa đã bị bãi bỏ từ lâu rồi. Từ năm 1816, thủy quân đã đảm trách những việc xem xét, đo đạc thủy trình, không còn giao phó hoàn toàn cho đội Hoàng Sa như trước nữa.
Về mặt tổ chức, phiên chế đội ngũ, đội Hoàng Sa là một tổ chức dân binh vừa mang tính dân sự vừa mang tính quân sự, vừa mang tính tư nhân vừa mang tính nhà nước, vừa có chức năng kinh tế, vừa có chức năng quản lý thời ấy ở Biển Đông, ra đời từ đầu thời chúa Nguyễn trong hoàn cảnh tay cầm cuốc, tay cầm gươm để mở đất khai hoang mà người đứng đầu đơn vị hành chánh lớn nhất là chưởng dinh. Cần có dinh lũy để vừa cai quản về hành chánh, khai hoang vừa chỉ huy quân sự sẵn sàng chiến đấu.
Đây là một tổ chức đặc biệt ở Đàng Trong cũng như những tổ chức khác dưới triều Nguyễn như các sở đồn điền khẩn hoang, mà đứng đầu mỗi đồn điền là một quản cơ. Thời chúa Nguyễn, theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn quyển 3, có nhiều tổ chức dân binh như đội thủ ngự (đội coi về Tuy là dân binh nhưng đội cũng được tổ chức theo hình thức tổ chức quân sự của Đàng Trong.
Theo binh chế ở Đàng Trong, ngoài chính binh (tinh binh còn gọi là nội binh), các quan trấn thủ, lưu thủ ở địa phương thường lấy dân địa phương làm binh canh giữ các nơi, gọi là ngoại binh (binh ấy còn gọi là thổ binh hoặc tạm binh, hoặc thuộc binh). Số binh này rất đông, gấp mấy lần chánh binh mà lại không được trả lương tháng như chánh binh, họ chỉ được miễn sưu thuế mà thôi. Phiên chế gồm: dinh, cơ, đội, thuyền. Thuyền là đơn vị thấp nhất. Mỗi đội gồm từ 40 đến 60 người. Điều khiển đội có cai đội và đội trưởng.
Đứng đầu đội Hoàng Sa cũng là một cai đội; những thành viên trong đội được gọi là quân nhân, điều này đã thể hiện tính quân sự hóa nêu trên. (Lê Quý Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục cũng gọi những người trong đội Hoàng Sa là quân nhân, và ông cũng ghi nhận một trường hợp 2 người bị trôi dạt vào cảng Thanh Lan (Hải Nam) và tám người khác bị mất tích khi bị bão vào năm Càn Long thứ 17 (1754)). Vì thế có dịch giả phương Tây dịch đội Hoàng Sa là “compagnie Hoàng Sa”, và phải hiểu là một tổ chức quân đội, chứ không phải là tổ chức hội buôn, mới đúng.
Người chỉ huy đội Hoàng Sa là cai đội phải là vị quan lớn như cai đội Thuyên Đức Hầu (được phong tước “hầu”) đã được Lê Quý Đôn tra cứu sổ sách suốt từ 1702 (Nhâm Ngọ) đến 1713 (Quý Tỵ). Hoặc như cai đội Phú Nhuận Hầu cũng thế, trong tờ trình ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803) đã kiêm luôn chức khâm sai cai thủ cửa biển Sa Kỳ và cai cơ thủ ngự (tờ kê trình của Phú Nhuận Hầu được lưu giữ tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh, nay là thôn Tây, xã An Vĩnh (nay là Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn) tỉnh Quảng Ngãi. Khâm sai cai thủ là chức trông coi cửa biển, thủ ngự là tổ chức tuần tra, chống trộm cướp thời Nguyễn.
Thời Chúa Nguyễn mỗi năm lấy 70 suất đinh để làm những nhiệm vụ của đội Hoàng Sa theo phép tuyển như trên, song còn dựa vào khả năng đi biển mà tuyển chọn. Số lượng 70 là số lượng đặc biệt cho một đội dân binh như đội Hoàng Sa. Những quân nhân này chủ yếu là dân gốc xã An Vĩnh và một phần là dân xã An Hải ở đất liền và ngoài đảo cù lao Ré. Trong hầu hết các sử liệu chỉ nói đến xã An Vĩnh, chỉ riêng Việt Sử Cương Giám Khảo Lược, quyển 4 của Nguyễn Thông là nói đến hai hộ An Hải và An Vĩnh tức hai phường An Vĩnh và An Hải ở đảo Lý Sơn hay cù lao Ré.
Theo lời truyền miệng của dân địa phương cù lao Ré để lại, việc tuyển lựa 70 suất của đội Hoàng Sa theo nguyên tắc định suất cho các dòng họ. Song cụ thể vẫn là theo lệ bổ tuyển quân nhân thời Chúa Nguyễn. Những người gọi là quân nhân ấy được tuyển theo hệ thống xã, huyện, phủ. Do phải luân phiên, nên hàng năm các đội Hoàng Sa phải lo điều chỉnh quân số sao cho đảm bảo lệ này.
Về mặt quyền lợi, ngoài việc được miễn sưu thuế, họ còn được hưởng phần dư, phần còn lại ngoài số sản vật thu được phải nộp cho nhà nước theo quy định. Lương thực mang đi cho 6 tháng được nhà nước cấp phát. Song chủ yếu là gạo, còn thức ăn phần lớn họ phải tự bắt cá, bắt chim ở các đảo để sống. Họ phải mang theo củi lửa. Đời sống của quân nhân trong đó có đội Hoàng Sa thời chúa Nguyễn khả quan hơn đời sống của người dân thời đó.
Tùy theo mỗi năm, số thuyền đi từ 4 hay 5 chiếc, có khi đến 18 chiếc. Số lượng 70 suất chia ra ở các thuyền, như vậy mỗi thuyền thông thường có khoảng 10 người. Mỗi chiếc thuyền do chủ thuyền hay thuyền trưởng cai quản.
Về lịch hoạt động ở ngoài đảo, theo những tài liệu như Dư Địa Chí, Hoàng Việt Địa Dư Chí, Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, Đại Nam Nhất Thống Chí, hàng năm đội Hoàng Sa bắt đầu đi từ tháng 3 âm lịch đến tháng 8 âm lịch thì về. Theo Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ thì lúc đi cuối Đông, không nói thời gian về; và theo Phủ Biên Tạp Lục thì thường đi vào tháng giêng âm lịch đến tháng 8 về (nếu lương thực mang đi có 6 tháng, chép tháng giêng là nhầm).
Từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch (tức khoảng từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch) ở Quảng Ngãi là mùa khô, có gió Tây Nam rất thuận lợi cho việc đi biển, nhất là vùng Quảng Ngãi lại chỉ có bão trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch (tháng 9 dương lịch đến tháng 12 dương lịch), nhất là hai tháng 9 và 10 âm lịch. Như thế việc chọn thời gian hoạt động trên của đội Hoàng Sa là một lựa chọn rất khôn ngoan của tiền nhân. Đến tháng 8 gió Tây Nam yếu, chuyển qua gió Đông Bắc thì thuyền của đội Hoàng Sa trở về vào cửa Eo để nộp sản phẩm ở chính dinh là đúng lúc, hợp lý nhất.
Hầu hết các tài liệu đều viết tháng ba âm lịch đi từ cù lao Ré đến nơi bắt đầu hoạt động ở Hoàng Sa là 3 ngày 3 đêm. Riêng Đại Nam Nhất Thống Chí ghi 3, 4 ngày đêm. Thời gian trên đều là thời gian thực tế đối với loại thuyền buồm nhẹ chạy nhanh khởi hành từ đất liền hay cù lao Ré đến đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa. Dĩ nhiên trong suốt 6 tháng hoạt động, đội Hoàng Sa tiếp tục đi khắp nơi, xa hơn, suốt các đảo từ phía Bắc. Riêng các hòn đảo xa phía Nam, ở cuối quần đảo Trường Sa hiện nay là Côn Đảo, Hà Tiên thì đã có đội Bắc Hải phụ trách và cũng lệ thuộc vào đội Hoàng Sa.
Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong khu vực có nhiều bão tố, nên điều kiện lúc bấy giờ không cho phép trú cả năm mà phải theo mùa. Như thế, quá trình hoạt động của đội Hoàng Sa cũng là quá trình xác lập và thực thi chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, kéo dài từ đầu thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX và theo luật lệ rõ ràng của nhà nước Việt Nam.
Theo NGUYỄN NHÃ (Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam) |
đăng 20:01 19-04-2009 bởi Văn Chí Nam
Bạch thư của Nhà nước Việt Nam và nhiều luận văn chuyên đề đã khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - căn cứ nơi các tài liệu lịch sử, địa lý, đồ bản và pháp lý là không thể phủ nhận.
Chúng tôi xin bổ túc thêm mấy tư liệu khác - của ngoại quốc và của chính Trung Quốc nhằm củng cố chủ quyền nước ta trên hai quần đảo ấy một cách khách quan và chân thực nhất.
Thái giám Trịnh Hòa vẽ rõ bờ biển Việt Nam
"Trong thời gian 1405-1433, Trịnh Hòa đã bảy lần chỉ huy một hạm đội mạnh (...) vượt biển xuống Đông Nam Á, sang Ấn Độ Dương, qua Tích Lan (nay là Xri Lanka), Ấn Độ, các nước Ả Rập, vào biển Đỏ và xuống bờ biển Đông Phi" (1). Trịnh Hòa đã ghi ký sự và vẽ bản đồ cuộc hành trình vĩ đại này. Trịnh Hòa hàng hải đồ vẽ liên tục cuộc hành trình trên mấy trăm trang giấy bản rất công phu.
Chúng tôi xin trích dẫn sơ đồ vẽ bờ biển và các hải đảo thuộc chủ quyền Việt Nam, khi ấy ghi là Giao Chỉ quốc và biển Đông ghi là Giao Chỉ dương. Sơ đồ này vẽ khá rõ từ biên giới Việt - Trung qua cửa khẩu sông Hồng, xuôi bờ biển miền Trung tới cửa khẩu Quy Nhơn, Trịnh Hòa ghi là Tân Châu cảng. Trịnh Hòa mặc nhiên thừa nhận Giao Chỉ dương tức là biển Đông và các đảo nằm trong đó đều thuộc chủ quyền Giao Chỉ quốc tức nước Đại Việt ta (có trích bản đồ Trịnh Hòa đính kèm).
 |
|
Trích sưu tập Trịnh Hòa hàng hải đồ, 2 trang 11b và 12a, vẽ Biển Đông từ biên giới hải phận Việt-Trung tới cửa khẩu Quy Nhơn |
Những bản đồ Bồ Đào Nha đầu tiên vẽ bờ biển Việt Nam về Hoàng Sa - Trường Sa
Nhà hàng hải Bồ Đào Nha Vasco de Gama (1469-1524) là người đầu tiên tìm đường sang Á Đông vòng qua mũi Hảo Vọng (Cap de Bonne Espérance) ở cực Nam châu Phi. Đó là năm 1497. Bồ Đào Nha đặt nhiều thương điếm ở Ấn Độ (như Goa) và Mã Lai (Malacca). Nhà hàng hải Tomé Pires tiếp nối hành trình, đi từ Malacca năm 1512 ngược lên phía bắc quan sát bờ biển và hải đảo các nước Campuchia, Chămpa, Giao Chỉ (tức Đại Việt mà biên cương mới tới Quy Nhơn), Trung Quốc, Nhật Bản...
Ngay từ đó, các nhà hàng hải Bồ Đào Nha đã thấy: "Quần đảo Paracel là một bãi đá ngầm nằm suốt từ nam ra bắc ở bờ biển xứ Đàng Trong dài 92 hải lý (1 hải lý dài 5km556, cả thảy dài 511km152) từ vĩ tuyến 12.11 tới vĩ tuyến 16.45C từ ngoài khơi Vũng Tàu đến Thừa Thiên - Huế và rộng 20 hải lý tức 111km120" (2).
Các bãi đá tập trung ở phía bắc ta gọi là Hoàng Sa, Tây phương gọi là Paracel hay Pracel nay Trung Quốc gọi là Tây Sa; ở phía nam ta gọi là Trường Sa, Tây phương gọi là Spratly, nay Trung Quốc gọi là Tây Sa. Trên bờ biển từ Thừa Thiên xuống Quy Nhơn, các bản đồ ngoại quốc Tây phương đều ghi là Costa da Paracel (bờ biển Hoàng Sa).
Những bản đồ Bồ Đào Nha đó là: Diego Ribeiro 1527, Bartholomeu Velho 1560, Liveo da Marinharia 1560, Lazaro Luis 1563, Bartholomeu Lasso 1590, Fernão Vaj Dourado 1590, Petrus Plancius 1592, Foão Teixeira 1630,.... Ngoài Bồ Đào Nha còn những bản đồ Tây phương khác cũng ghi về Hoàng Sa - Trường Sa mặc nhiên là của Việt Nam, như: Abraham Ortelius 1567, Ludovico Georgio 1584, Joan Martines 1591, Linschoten 1595, Jodocus Hondius 1606, Blacu 1635, Thevenot 1664, Dudley 1665, John Seller 1675, Placide 1686, Blaeu Legacy 167. Đó là chưa kể: Van Langren 1595, Mercator 1613, Berthelot 1635, Antonio Sanchej 1641, Enda Vorrtgangh 1646, Guilio Blaen 1663...
Chính quyền thuộc địa Pháp đã cho khảo sát, vẽ rõ ràng và chi tiết Biển Đông (Quốc tế gọi là Mer de Chine) và tất cả quần đảo và đảo lớn nhỏ nằm trong đó. Đáng kể nhất là Bản đồ quần đảo Hoàng Sa (Archipel des Paracels d'après les levés allemands 1881-1885 et les travaux anglais et franais les plus récents. Service hydrographique de la Marine. Paris 1885. Mars 1840 (3è édition). Vậy là có cả người Đức và người Anh nghiên cứu Hoàng Sa - Trường Sa trước người Pháp.
Năm 1701, các giáo sĩ Hội thừa sai Paris (MEP) đi trên tàu Amphitrite sang Trung Hoa, đã kể lại: "Chúng tôi gặp quần đảo Paracel là quần đảo thuộc chủ quyền đế quốc An Nam" (Le Paracel est un archipel qui dépend de l'Empire d'Annam).
Tác giả người Trung Quốc Ngụy Nguyên vẽ rõ hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam
Năm 1842, Ngụy Nguyên cho xuất bản tác phẩm Hải quốc đồ chí. Sách này gồm 60 quyển, mô tả khắp các nước năm châu bốn biển. Trong quyển 9, tờ 4 (2 trang), Ngụy Nguyên ghi bên tay phải Đông Nam Dương các quốc diên cách đồ và vẽ sơ đồ nước Việt Nam chia ra 3 phần: Việt Nam Đông đô (Hà Nội), Việt Nam Tây đô (Thanh Nghệ) và Quảng Nam (Đàng Trong). Ngoài khơi Việt Nam có ghi rõ Đông Dương đại hải.
Bên ngoài Thuận Hóa cảng khẩu, có những chấm nhỏ li ti mang tên Vạn Lý Trường Sa (chúng ta nhận diện là quần đảo Hoàng Sa). Bên ngoài bờ biển Việt Nam Tây đô cũng có những chấm li ti nhưng ít hơn mang tên Thiên lý thạch đường (chúng ta nhận diện là quần đảo Trường Sa). Hai quần đảo này hoàn toàn nằm trong Đông Dương Đại Hải tức thuộc chủ quyền Việt Nam. Ngụy Nguyên không hề biết gì đến Tây Sa hay Nam Sa!
Chính quyền Pháp ở Đông Dương đặt hai đài khí tượng trên Hoàng Sa và Trường Sa
Năm 1927, Pháp đặt một trạm khí tượng hạng nhất (station météorologique de 1er ordre) tại đảo Pattle (Hoàng Sa) và một trạm phong vũ biểu trên đảo Itu Aba (tức đảo Ba Bình trong quần đảo Trường Sa). Đó là hai đài khí tượng nằm trong hệ thống được quốc tế thừa nhận (3).
Tóm lại, hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa liên tục thuộc chủ quyền Việt Nam từ 500 năm nay, không chỉ do những tư liệu lịch sử Việt Nam mà cả những cứ liệu quốc tế cũng đều khẳng định.
-------------
(1) Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 4, Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội, 2005, tr.596. (2) PY Manguin, Les Portugais sur les côtes du Vietnam, PEFEO, Paris, 1972, tr.43-44. (3) Bruzon, Carton, Romer, Le climat de l'Indochine et les typhons de la Mer de Chine, Hanoi, 1930
NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU Nhà sử học - N.Đ.Đ. (Tạp chí Xưa và Nay số 298, tháng 12/2007) |
đăng 20:00 19-04-2009 bởi Văn Chí Nam
Năm 1816, vua Gia Long ban lệnh cho thủy quân với sự hướng dẫn của dân binh đội Hoàng Sa đi xem xét, đo đạc thủy trình ở quần đảo Hoàng Sa khi ấy bao gồm cả Trường Sa (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 52).
Chính hoạt động lần đầu tiên của thủy quân này đã đánh dấu mốc thời gian rất quan trọng về việc tái xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, nên đã khiến cho những người phương Tây như Chaigneau hay sau này là Taberd khẳng định vua Gia Long đã chính thức xác lập chủ quyền của mình như đã nói trên.
Thực ra sự kiện năm 1816 chỉ đánh mốc là hoàng đế Gia Long sử dụng thủy quân thay vì chỉ có đội Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình, khai thác hải vật như trước.
Thời nhà Nguyễn, nhất là từ thời Minh Mạng, đã thành lệ, hằng năm thủy quân đều ra Hoàng Sa, Trường Sa để vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, và tiến hành các hoạt động khác trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa...
Lực lượng thủy quân làm nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền này là một “lực lượng đặc nhiệm” gồm kinh phái, tỉnh phái và dân binh địa phương trong có dân binh đội Hoàng Sa. Kinh phái - đứng đầu là thủy quân cai đội hay thủy quân chánh đội trưởng chỉ huy – hợp cùng với lực lượng thủy quân lấy trong vệ thủy quân đóng ở kinh thành hay ở cửa Thuận An.
Ngoài thủy quân kinh phái còn các viên giám thành trong vệ giám thành, là những chuyên viên vẽ bản đồ như đã trình bày ở trên. Tỉnh phái là các viên chức ở tỉnh Quảng Ngãi có nhiệm vụ phối hợp với kinh phái trong công tác hướng dẫn, cung cấp dân công, lo xây dựng, đồng thời còn điều động dân binh ở tỉnh Quảng Ngãi. Có khi gồm cả dân binh tỉnh Bình Định như trong các chuyến công tác năm 1835 và 1837.
Nhiệm vụ của “lực lượng đặc nhiệm” luôn được hoàng đế Việt Nam theo sát và ra chỉ dụ cụ thể, nhất là dưới triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị. Điều này cho thấy nhiệm vụ của lực lượng đặc nhiệm này quan trọng đến chừng nào.
Cũng chính vua Minh Mạng ra chỉ dụ nói rõ việc làm cụ thể của từng chuyến đi. Tỷ như năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu trình lên Vua về chuyến vãng thám Hoàng Sa của thủy quân chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhật, vua Minh Mạng phê sửa (châu cải): “Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thụ ngay, giao cho tên ấy (Phạm Hữu Nhật) nhận biên” và rồi vua Minh Mạng lại phê (châu phê): “Thuyền nào đi đến đâu, cắm mốc tới đó để lưu dấu”.
Chính vua Minh Mạng cũng theo dõi các chuyến đi công tác Hoàng Sa bao gồm Trường Sa và đã nhiều lần ra chỉ dụ thưởng phạt. Thường dân binh đội Hoàng Sa Quảng Ngãi, Bình Định luôn được thưởng 1 hay 2 quan tiền và miễn thuế về sự cực khổ vất vả theo đoàn. Còn các viên chỉ huy như cai đội, chánh suất đội, các viên chức tỉnh phái mà chậm trễ đều bị tội.
Dưới triều vua Minh Mạng, thủy quân mới được tổ chức thật quy củ, ngoài nhiệm vụ đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ còn phải cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6 đã ghi chép rằng trước năm Minh Mạng thứ 16, nhà vua sai quân lính ra dựng bia đá làm dấu đã thấy phía Tây Nam đảo có ngôi cổ miếu, không biết kiến thiết vào thời đại nào và có bia khắc bốn chữ “Vạn Lý Ba Bình”. Như thế trước thời Minh Mạng đã có việc khắc bia, dựng miếu chùa rồi.
Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công sang năm Minh Mạng thứ 15 (1834) phái người ra dựng bia chủ quyền. Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 165 cũng đã chép rất rõ từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu vua cứ hằng năm cử người ra Hoàng Sa bao gồm Trường Sa ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, còn cắm cột mốc, dựng bia. Tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836) với lời châu phê của vua Minh Mạng cũng đã nêu rõ: “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc”.
Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 6 còn ghi rất rõ: “Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mỗi bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ: “Minh Mạng Thập Thất Niên Bính Thân thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương đồ chí thử, hữu chí đẳng tư (tờ 25b)” (Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ).
Mỗi năm, cột mốc đều khắc rõ niên hiệu, năm, chức vụ, họ tên viên chỉ huy “lực lượng thủy quân đặc nhiệm”, được phụng mệnh ra Hoàng Sa và ghi dấu để nhớ. Nếu chỉ tính sử sách có ghi rõ tên những người chỉ huy đội thủy quân đặc nhiệm của các năm cụ thể thời Minh Mạng như cai đội thuyền Phạm Văn Nguyên năm Minh Mạng thứ 16 (1835), chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật năm Minh Mạng thứ 17 (1836), thủy sư suất đội Phạm Văn Biện năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thì số đảo được đánh mốc cũng rất đáng kể. Mỗi thuyền 10 bài gỗ. Mỗi năm 4 - 5 thuyền có thể cắm mốc tối đa 40 - 50 cột mốc tại các đảo, song rất khó tổng kết trên thực tế cắm cột mốc được tất cả bao nhiêu đảo.
Các vị vua chúa Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng cũng rất quan tâm đến việc dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua đã chuẩn y lời tâu của Bộ Công cho tỉnh Quảng Ngãi cất miếu Hoàng Sa một gian theo thể chế nhà đá.
Việc dựng miếu này theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 154, cho biết rõ năm Minh Mạng thứ 15 (1834) đã không thực hiện việc xây dựng miếu như dự kiến mà đến mãi đầu tháng 6 mùa hạ, năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua Minh Mạng đã cử cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu cách tòa miếu cổ 7 trượng. Bên trái miếu, phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong việc chứ không như các đoàn khác có nhiệm vụ lâu dài hơn.
Thường ba mặt miếu Hoàng Sa (bên trái, bên phải và đằng sau) đều trồng các loại cây. Ý của vua Minh Mạng sai trồng cây xuất phát từ chỗ thuyền buôn qua vùng này thường gặp nạn, vì vậy trồng cây cốt làm dấu dễ nhận ra đảo mà tránh tình trạng thuyền bị tai nạn đâm vào đảo...
Theo Việt Sử Cương Giám Khảo Lược của Nguyễn Thông, thì các quân nhân đến đảo thường đem những hạt quả thủy nam mà rải ở trong và ngoài miếu. Cây trồng ở Hoàng Sa và Trường Sa chủ yếu trồng bằng cách gieo hạt, quả chứ không trồng bằng cây con. Điều đó cũng hợp lý vì mang cây con ra biển đi trên thuyền nhỏ như thế cũng khó khăn, khó bảo dưỡng được cây sống để mà trồng. Thời gian hoạt động hằng năm của thủy quân vào cuối mùa khô, kéo dài sang mùa mưa nhiều tháng trời, rất thuận lợi cho việc gieo hạt trồng cây.
N.N. (Trích từ “Trường Sa, mảnh đất thiêng của Việt Nam” báo Thanh Niên ngày 1,2,3/1/2008)
NGUYỄN NHÃ Tiến sĩ sử học |
đăng 21:48 18-04-2009 bởi Văn Chí Nam
Tập sách Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam được NXB Trẻ ấn hành năm 2008. Nội dung cuốn sách là tập hợp một số bài nghiên cứu, bài báo và những tư liệu mới của các nhà sử học và các nhà nghiên cứu, chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, xét về mặt lịch sử và luật pháp quốc tế.
Phần I: Chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa - Cơ sở lịch sử và pháp lý quốc tế
Quyết định của Quốc vụ viện Trung Quốc thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý ba quần đảo, trong đó có quần đảo Tây Sa và Nam Sa, tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, là hành động ngang ngược, bất chấp lẽ phải, chà đạp lên sự thật lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo ấy.
Luận điểm đầu tiên của chính quyền tỉnh Quảng Đông khi công khai khảo sát Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa vào năm 1909, là cho rằng quần đảo “Tây Sa” là đất vô chủ (res nullius), hải quân tỉnh Quảng Đông đã cắm cờ trên đảo và bắn 21 phát súng đại bác tại một số đảo ở Hoàng Sa năm 1909.
Sau khi dùng vũ lực một cách bất hợp pháp cưỡng chiếm Hoàng Sa vào trung tuần tháng giêng năm 1974, Trung Quốc đã cố gắng tìm kiếm tài liệu để cố gán ghép bằng cách cắt xén, nếu cần thì xuyên tạc với sự đóng góp của các nhà học giả như Sử Lệ Tổ đưa ra luận điểm cho rằng “các đảo Nam Hải từ cổ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc”, do nhân dân Trung Quốc “phát hiện sớm nhất”, “kinh doanh sớm nhất”, do chính phủ các triều đại Trung Quốc “quản hạt sớm nhất” và viện dẫn nhiều tài liệu lịch sử mang tính suy diễn để dẫn chứng (Quang Minh Nhật Báo, 24-11-1975).
Những luận cứ cố gán ghép
Để minh chứng cho sự xác lập chủ quyền của mình ở Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Quốc lại cũng đưa ra những luận điểm được coi là “vững mạnh nhất” như sau:
1. Trung Quốc khẳng định các đảo Nam Hải đã thuộc phạm vi quản hạt của Trung Quốc từ năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường năm 789. Đúng sử sách Trung Quốc như sách Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát có chép những thay đổi về qui chế hành chính từ đời Hán đến đời Tống, trong đó có việc Quỳnh Sơn, một quận của đảo Hải Nam thời đó (xin nhấn mạnh) - sau thuộc thành phố Hải Khẩu - được đặt thành “phủ đô đốc” vào năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường, tức năm 789.
Nhưng qua các sách Đường Thư, Thái Bình Hoàn Vũ Ký, Dư Địa Kỷ Thăng (1221), Quảng Đông Thông Chí (1842) thì vào năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường tại đảo Hải Nam chỉ thấy có chuyện kể viên đô đốc nhà Đường là Lý Phục mang quân sang lấy lại đảo Hải Nam sau hơn 100 năm dân bản địa nổi dậy làm chủ đảo và xin vua Đường đặt phủ đô đốc ở quận Quỳnh Sơn, không hề có chuyện “sáp nhập bất kỳ đảo ở biển Nam Trung Hoa vào đảo Hải Nam”.
2. Trung Quốc phái thủy quân đi “tuần tiễu”. Trung Quốc đã viện dẫn các sự kiện để chứng minh. Trước hết về luận cứ “phái thủy quân tuần tiễu cương giới biển”, luận chứng của nhóm Hàn Chấn Hoa chỉ dựa vào một đoạn trong sách Vũ Kinh Tổng Yếu, song những đoạn văn này hoàn toàn không chứng minh được lập luận “Trung Quốc phái thủy quân tuần tiễu quần đảo Tây Sa bắt đầu đời Tống”.
Nhóm Hàn Chấn Hoa đã cố gán ghép hai đoạn văn vào với nhau gồm đoạn văn nói về lộ trình “Từ đồn Môn Sơn đến các nước Đại Thực, Phật Sư Tử, Thiên Trúc” tiếp liền vào đoạn văn đầu viết về “đặt dinh lũy thủy quân tuần tiễu ở hai cửa biển Đông và Tây”. Điều này không đúng với nguyên bản Vũ Kinh Tổng Yếu. Đây chỉ là sự cố gán ghép “đầu Ngô mình Sở” để cố minh chứng việc tuần tiễu thủy quân đời Tống qua đất “Cửu Nhũ Loa Châu” mà nhóm này cho là Tây Sa.
Còn việc tuần tiễu của Ngô Thăng, trước hết tìm hiểu vị trí các địa danh trên, chúng ta được biết Quỳnh Nhai là thủ phủ Quỳnh Châu ở phía bắc đảo Hải Nam, Đồng Cổ là quả núi cao 339m ở phía đông bắc đảo Hải Nam, Thất Châu Dương là phía đông đảo Hải Nam, Tư Canh Sa là bãi cát phía tây đảo Hải Nam. Đây chỉ là cuộc tuần tiễu của Ngô Thăng quanh đảo Hải Nam, chứ không đến Tây Sa, nên nhớ rằng Thất Châu Dương ở phía đông đảo Hải Nam nên không hề là Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam, vốn cách Hải Nam hơn 350 hải lý về phía đông nam.
3. Các đảo Nam Hải đã được vẽ vào bản đồ Trung Quốc. Các tác giả bộ sưu tập do Hàn Chấn Hoa chủ biên cũng rất “công phu” đưa ra 13 bản đồ và chia làm hai loại. Một loại là bản đồ Trung Quốc thời Minh Thanh có vẽ các đảo Nam Hải. Một loại khác là bản đồ Trung Quốc thời Minh Thanh và các nước phiên thuộc, cũng có vẽ các đảo Nam Hải.
Bằng chứng thuyết phục
Có rất nhiều bản đồ chính thức của Trung Quốc từ đời Nguyên, Minh đến Thanh, trong đó có bản đồ ấn bản gần thời điểm có tranh chấp như bản đồ Đại Thanh Đế Quốc trong Đại Thanh Đế Quốc toàn đồ, xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ tư năm 1910 đã vẽ cực nam của lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam, không vẽ bất cứ hải đảo nào khác ở biển Đông.
Bản đồ Hoàng Triều Nhất Thống dư địa tổng đồ trong cuốn Hoàng Thanh Nhất Thống dư địa toàn đồ xuất bản năm Quang Tự 20 (1894) đã ghi rõ cực nam lãnh thổ Trung Quốc là Nhai Châu, phủ Quỳnh Châu, Quảng Đông ở 18 độ 30 phút Bắc, trong khi Tây Sa hay Hoàng Sa được Trung Quốc đặt tên, có đảo ở vị trí cao nhất là 17 độ 5 phút. Điều này chứng tỏ Tây Sa hay Hoàng Sa chưa hề là lãnh thổ của Trung Quốc.
Trong khi đó, ngay tài liệu của chính người Trung Quốc như Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán đã cho biết Chúa Nguyễn sai thuyền khai thác các sản vật từ các tàu bị đắm ở Vạn Lý Trường Sa, tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện liên tục qua các đời: từ đầu thời Chúa Nguyễn (tức đầu thế kỷ XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới triều Nguyễn (từ vua Gia Long), Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ ràng.
Thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh và thời Tây Sơn, nguồn tư liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, năm 1686, trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ bản đồ và Phủ Biên Tạp Lục, năm 1776 của Lê Quý Đôn.
Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ, năm 1686 có bản đồ là tài liệu xưa nhất, ghi rõ hàng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai thác ở Bãi Cát Vàng. Còn tài liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn (năm 1776) là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa, quyển 2 có hai đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.
Sang thời kỳ triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
- Dư Địa Chí trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833). Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn cuối thế kỷ XVIII.
- Đại Nam Thực Lục phần tiền biên, quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in năm 1844) tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.
- Đại Nam Thực Lục Chính biên đệ nhất kỷ (khắc in năm 1848); đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864); đệ tam kỷ (khắc in xong năm 1879) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
- Tài liệu rất quí giá là châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang được lưu trữ tại Kho lưu trữ trung ương 1 ở Hà Nội. Ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như Bộ Công, và các cơ quan khác hay những dụ của các nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc... Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám, sau đó lại tiếp tục.
- Trong bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần hai và khắc in) xác định Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản...
Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam.
|
Những tư liệu phương Tây xác nhận về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
- Nhật ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam.
- Le mémoire sur la Cochinchine của Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) viết vào những năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1820) đã khẳng định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Paracels.
- An Nam Đại Quốc Họa Đồ của giám mục Taberd xuất bản năm 1838 khẳng định Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracels và nằm trong vùng biển của Việt Nam.
- The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol. VI đã đăng bài của giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels).
- The Journal of the Geographical Society of London (năm 1849) Gutzlaff ghi nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracels...
Về những tư liệu của Trung Quốc và phương Tây minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, người ta thấy:
- Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696. Trong quyển 3 của Hải Ngoại Kỷ Sự đã nói đến Vạn Lý Trường Sa khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa.
- Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa không thuộc về Trung Quốc.
Khảo sát tất cả bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả bản đồ cổ nước Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Tất cả bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực nam của biên giới phía nam của Trung Quốc.
Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1-1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhiều cổ vật
như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt bắc ngôi miếu
“Hoàng Sa Tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée), lại là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam. |
NGUYỄN NHÃ - Tiến sĩ sử học
(Theo Tuổi Trẻ) |
‹ Trước đó
1-9 trong tổng số 9
Tiếp theo ›
|