Center for Educational Excellence

Liên lạc

Chịu trách nhiệm nội dung:
 
 
Điện thoại:
(08) 3835 4008
 
Email:
 
Địa chỉ:
227 Nguyễn Văn Cừ, Q5, TP.HCM
 

Hỗ trợ

Chân thành cảm ơn các đơn vị sau đây đã hỗ trợ chúng tôi:

 

Pageview

Pageview

Thanh niên với pháp luật

NLĐ làm thêm giờ được tính lương thế nào?

đăng 19:14 17-07-2009 bởi Văn Chí Nam

Công ty tôi bố trí lịch làm việc cho công nhân sản xuất theo 2 ca, mỗi ca 12 tiếng. Ca 1 từ 6g30 đến 18g30, ca 2 từ 18g30 đến 6g30 sáng hôm sau. Căn cứ theo Điều 61, 68 và 70 BLLĐ, Thông tư số 14/2003/TT-BLĐTBXH, mức lương được tính là: 7.000 x 150% x 130% x 3,5 hay 7.000 x 150% x 145% x 3,5?

Nếu tính theo 7.000 x 150% x 145% x 3,5 thì thời điểm thực hiện bắt đầu khi nào? Tôi không tìm thấy Thông tin sửa đổi bổ sung của BLLĐ về việc làm thêm giờ cho người lao động (NLĐ), mong quý báo tư vấn giúp.

(Huỳnh Kim Hoa)

- Trả lời:

Lưu ý với bạn là Thông tư 14/2003/TT-BLĐTBXH ngày 30-5-2003 của Bộ LĐ-TB&XH được áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam. Do đó, nếu công ty bạn không thuộc các đối tượng trên thì bạn phải căn cứ theo các quy định tại Thông tư 13/2003/TT-BLĐTBXH V/v Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 114/2002/NĐ-CP về tiền lương đối với NLĐ làm việc trong doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Hiện tại cả hai thông tư trên đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 28/2007/TT-BLĐTBXH ngày 5-12-2007 của Bộ LĐ-TB&XH. Tuy nhiên cách tính lương làm thêm giờ cho NLĐ vẫn không bị sửa đổi bởi Thông tư 28/2007/TT-BLĐTBXH.

Mặc dù hai Thông tư 13 và Thông tư 14 nêu trên được áp dụng cho các đối tượng khác nhau nhưng cả hai đều có cùng cách tính tiền lương làm thêm giờ như nhau. Cụ thể:

Tiền lương làm thêm giờ = Tiền lương giờ thực trả x 150% hoặc 200% hoặc 300% x Số giờ làm thêm.

Tiền lương giờ thực trả được xác định trên cơ sở tiền lương thực trả của tháng mà NLĐ làm thêm giờ (trừ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm, tiền lương và các khoản thu nhập khác không có tính chất lương) chia cho số giờ làm việc trong tháng (không kể số giờ làm thêm) nhưng không quá 208 giờ đối với công việc có điều kiện lao động, môi trường lao động bình thường hoặc 156 giờ đối với công việc có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc độc hại, nguy hiểm.

Trường hợp trả lương ngày, tiền lương giờ thực trả được xác định trên cơ sở tiền lương thực trả của ngày làm việc đó (trừ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác không có tính chất lương) chia cho số giờ thực tế làm việc trong ngày (không kể số giờ làm thêm) nhưng không quá 8 giờ đối với công việc có điều kiện lao động, môi trường lao động bình thường hoặc 6 giờ đối với công việc có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;

- Mức 150%, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày thường;

- Mức 200%, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ hàng tuần quy định tại Điều 72 của Bộ Luật Lao động;

- Mức 300%, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương (trong mức 300% này đã bao gồm tiền lương trả cho thời gian nghỉ được hưởng nguyên lương theo điều 73, 74, 75 và 78 của Bộ Luật Lao động).

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 195/CP ngày 31-12-1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi thì thời giờ làm việc trong điều kiện lao động, môi trường lao động bình thường là không quá 8 giờ trong một ngày và không quá không quá 48 giờ trong một tuần.

Ngoài ra, đối với lao động trả lương theo thời gian, nếu làm việc vào ban đêm, thì doanh nghiệp, cơ quan phải trả lương làm việc vào ban đêm theo cách tính sau:

Tiền lương làm việc vào ban đêm = Tiền lương giờ thực trả x 130% x Số giờ làm việc vào ban đêm.

- Mức 130% gồm tiền lương giờ thực trả làm việc vào ban ngày và 30% tiền lương giờ thực trả làm việc vào ban đêm;

- Thời giờ làm việc vào ban đêm theo quy định tại Điều 6, Nghị định số 195/CP ngày 31-12-1994 của Chính phủ được xác định từ 22g ngày hôm trước đến 6g ngày hôm sau đối với các tỉnh, thành phố từ Thừa Thiên - Huế trở ra phía Bắc; từ 21g ngày hôm trước đến 5g ngày hôm sau đối với các tỉnh, thành phố từ Đà Nẵng trở vào phía Nam;

Như vậy, trong trường hợp NLĐ tại công ty bạn làm việc trong điều kiện bình thường và công ty bạn tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi thì cách tính tiền lương đối với NLĐ tại công ty bạn như sau (giả sử mức lương giờ thực trả = 7.000 đồng):

• Nếu NLĐ làm việc từ 6g30 đến 18g30, tiền lương của NLĐ sẽ bằng tiền lương ngày + tiền lương làm thêm giờ = 7.000 x 8 (giờ) + 7.000 x 150% x 4 (giờ làm thêm).

Tóm tại: Tiền lương = 7.000 x 8 (giờ) + 7000 x 150% x 4 (giờ làm thêm).

• Nếu NLĐ làm việc từ 18g30 đến 6g30 thì cách tính như sau: khoảng thời gian từ 18g30 đến 2g30 sẽ được tính theo mức tiền lương ngày và khoảng thời gian từ 2g30 đến 6g30 sẽ được tính theo mức tiền lương giờ làm thêm. Theo quy định, thời giờ làm việc vào ban đêm được tính từ 22g ngày hôm trước đến 6g sáng ngày hôm sau nên ta sẽ có cách tính như sau:

Tiền lương = 7.000 x 3,5 (là số giờ làm việc từ 18g30 đến 22g).

+ 7.000 x 130% x 4,5 (là số giờ làm việc vào ban đêm từ 22g đến 2g30).

+ 7.000 x 130% x 150% x 3,5 (là số giờ làm thêm vào ban đêm từ 2g30 đến 6g).

+ 7.000 x 150% x 0,5 (là số giờ làm thêm vào ban ngày từ 6g đến 6g30).

Theo Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU (Tuổi Trẻ)

Nghiêm cấm sản xuất, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, đốt và thả "đèn trời"

đăng 19:04 17-07-2009 bởi Văn Chí Nam

Ngày 17-7, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành Quyết định số 95/2009/QĐ-TTg nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, đốt và thả” đèn trời” trong phạm vi cả nước. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15-9-2009.

Quyết định quy định rõ trách nhiệm của các Bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau:

- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan có liên quan hướng dẫn thực hiện Quyết định này; nghiên cứu đề xuất các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi sản xuất, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, đốt và thả “ đèn trời”.

- Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban Dân tộc, các bộ, ngành, địa phương tăng cường công tác tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng về Quyết định này để nhân dân hiểu và thực hiện nghiêm túc.

- Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các cơ quan liên quan có liên quan tuyên truyền, giáo dục thanh niên, thiếu niên, học sinh, sinh viên nhận thức những nguy hại của việc đốt, thả “ đèn trời”, tích cực tham gia vận động toàn xã hội thực hiện Quyết định này.

- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao chịu trách nhiệm quản lý, kiểm tra, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm về sản xuất, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, đốt và thả “ đèn trời” theo quy định của pháp luật.

Những người có công phát hiện, ngăn chặn việc sản xuất, nhập khẩu, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển, đốt và thả “đèn trời” sẽ được khen thưởng theo quy định của pháp luật. Các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm việc nghiêm cấm sản xuất, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, đốt và thả “đèn trời” sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Theo TTXVN

Yêu điên!

đăng 00:04 08-07-2009 bởi Văn Chí Nam

Chỉ vì không được đáp lại tình yêu, không lấy được người mình yêu hoặc ghen tuông, không giữ được người đầu ấp tay gối, mâu thuẫn chuyện gia đình... mà họ muốn tự tử và giết luôn người thân yêu.

Dự những phiên tòa như thế cảm thấy vừa phẫn nộ vừa tiếc cho bị cáo, vừa bi thương cho những nạn nhân xấu số...

Hành động dại dột

Nguyễn Thanh Hải vác lúa mướn cho anh trai của M.E.. Rồi Hải đem lòng yêu M.E., đã nhiều lần tỏ tình nhưng M.E. chỉ xem Hải là bạn. Sau đó biết có người đến dạm hỏi M.E. nên Hải liền hẹn M.E. ra nói chuyện tạm biệt, vì Hải sẽ lên Sài Gòn làm công nhân. Phần M.E. cũng muốn nói rõ thiệt hơn nên đồng ý gặp Hải. Để tránh cho mọi người, nhất là Hải, đừng hiểu lầm, M.E. cùng em gái mình đến nhà dì ruột để gặp Hải. Tại đây, Hải năn nỉ nhưng M.E. kiên quyết lắc đầu từ chối và khuyên Hải nên tìm người khác.

Trong lúc nói chuyện, Hải bất thình lình rút dao giấu trong người đâm nhiều nhát vào M.E.. Nghe tiếng la, dì dượng M.E. chạy đến, vội vã đưa M.E. vào bệnh viện. Những vết thương trí mạng khiến cô gái bị tỉ lệ thương tật 52%. Hải bỏ chạy về nhà, lấy chai thuốc trừ sâu ra uống, rồi dùng dao cắt vào tay tự sát, nhưng người nhà phát hiện kịp thời đưa đi bệnh viện nên Hải thoát chết.

Trong phiên tòa sơ thẩm TAND tỉnh Đồng Tháp, hội đồng xét xử phân tích: Rõ ràng M.E. không có hồi đáp tình cảm nào với bị cáo, càng không có bất cứ hứa hẹn hôn nhân nào. Chỉ có bị cáo yêu đơn phương rồi bắt buộc người ta phải đáp trả. Bị cáo quá cố chấp, ích kỷ trong suy nghĩ. Thừa biết làm thế không xoay chuyển tình thế, vậy mà vẫn làm. Có thể bị cáo sẽ buồn đau vì thất tình, nhưng bị cáo còn cha mẹ, anh em, những người luôn lo lắng, thương yêu mình. Vả lại bị cáo còn trẻ, chỉ mới 25 tuổi, rồi cũng sẽ có cơ hội gặp người con gái khác, tìm được hạnh phúc đích thực của mình, thế mà lại hành động rất dại dột.

Bị cáo đã phải nhận mức án 8 năm tù và bồi thường 22 triệu đồng tiền thuốc men điều trị, tổn thất tinh thần cho bị hại... Còn người dự khán thở dài: “Đúng là quá dại. Cũng may chưa có án mạng xảy ra...”.

“Mạng sống con người là vô giá”

Do thấy chồng thường uống rượu nên vợ Hùng đã bỏ nhà đi, để lại đứa con gái. Hai năm sau thấy vợ không quay về nên Hùng nhiều lần định tự vẫn, nhưng thấy con chỉ mới 4 tuổi nên không nỡ.

Rồi lần đó, sau khi thức dậy trong một cơn say, Hùng trằn trọc không sao ngủ được đến 3 giờ sáng làm bé con thức giấc. Hùng hỏi con có muốn tự tử không? Bé ngơ ngác, lắc đầu, rồi vùi vào lòng cha định ngủ tiếp. Nhưng thiên thần chưa kịp rơi vào giấc mơ đã bị cha xóa đi sinh mạng. Xong, Hùng cũng cầm dao đâm vào mình tự sát, nhưng nhờ người thân phát hiện nên cứu kịp...

Nghe vị đại diện Viện kiểm sát đọc cáo trạng trong phiên tòa sơ thẩm TAND tỉnh An Giang, cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng làm đầu óc tôi như muốn đông cứng lại. Không ngờ trên đời lại có người tàn nhẫn, nông cạn đến như thế.

Cả phòng xử chùng xuống khi nghe hội đồng xét xử phân tích: “Nếu vợ bị cáo bỏ đi thì bị cáo phải xem lại bản thân mình có lỗi gì không. Nếu bị cáo có lỗi thì lo tu chỉnh, ráng nuôi con nên người, bù đắp lỗi lầm mà mình gây ra. Còn nếu vợ bị cáo có lỗi thì bị cáo phải chăm sóc con nhiều hơn, bởi so với những đứa trẻ khác bé đã bị thua thiệt rất nhiều. Vả lại bị cáo còn có tương lai phía trước chứ đâu đến đỗi cùng đường mà tự vẫn, rồi giết luôn cả con mình. Đứa trẻ nào có tội tình gì. Bị cáo phải có lương tâm của một người cha chứ!”.

Bị cáo đáp lí nhí: “Bị cáo thương con mới làm như thế. Bởi bị cáo sợ bỏ con lại một mình côi cút tội nghiệp”. Chủ tọa cố kìm: “Nếu bị cáo thương con phải nuôi bé chu đáo chứ đâu lại tước đi mạng sống con mình! Cho dù bị cáo là cha cũng không có quyền định đoạt như thế”.

Hai phụ nữ ngồi gần tôi thở dài: “Làm cha làm mẹ kiểu gì vậy trời! Con mình chỉ bị sốt, sổ mũi, nhức đầu một chút còn sợ quýnh cả lên, vậy mà có người lại giết con như thế!”. “Ừ, mạng sống con người là vô giá, không ai được quyền xóa đi sự sống của người khác. Đã là cha phải bảo vệ, che chở con cái mình, đằng này...”.

Tòa đã tuyên án bị cáo 20 năm tù.

Dự phiên tòa này, tôi nhớ đến phiên tòa sơ thẩm ngày 20-1-2007, xử vụ án từng gây rúng động cả thành phố Cần Thơ. Chỉ vì nghĩ rằng vợ xem thường mình bởi mình thất bại trong chuyện làm ăn, rồi sinh ra mâu thuẫn, cãi vã mà N.V.H. đã giết vợ và hai con rồi tự tử.

Tuy được cứu sống nhưng bị cáo vẫn phải ra trước vành móng ngựa và lãnh mức án tử hình. Thầy cô, xóm giềng đều nói hai đứa trẻ học khá giỏi, lại hiền ngoan, tương lai đang trước mắt. Còn người tham dự phiên tòa phẫn nộ, họ trách người cha sao cạn nghĩ, nhẫn tâm giết chết người thân. Có lẽ trong những giây phút hãi hùng cuối đời mình, vợ và các con bị cáo không hiểu vì sao phải chết...

Hối hận đã muộn...

Thẩm phán Lâm Phước Nghĩa, phó chánh án TAND tỉnh An Giang, tâm sự ông cảm thấy đau lòng khi xử nhiều phiên tòa giết người chỉ vì không được đáp lại tình yêu, hoặc ghen tuông, vợ chồng mâu thuẫn nhau... Ra tòa nhiều người hối hận. Họ nói rằng lúc đó tại tâm thần bấn loạn nên mới hành động dại dột như vậy. Nhưng đã muộn rồi.

Người thân không còn, mang nỗi ám ảnh mình là kẻ giết người nên nhiều bị cáo xin tòa xử cho mình được chết theo người thân. Không có gì quý hơn sự sống, hình hài do cha mẹ ban cho, đâu phải muốn hủy diệt là hủy diệt. Dù có chuyện gì cũng nên hiểu bản thân mình là thứ quý giá nhất. Đối với mạng sống người khác, mình càng không có quyền tước đoạt.

Mỗi chúng ta chỉ có một cuộc đời nhưng có nhiều cơ hội để thực hiện những gì ta mong muốn trong cuộc đời ấy. Chúng ta có nhiều mối quan tâm chứ không phải chỉ có tình yêu trai gái... Còn mâu thuẫn vợ chồng ở gia đình nào mà không có.

Cuộc sống có những va vấp, thất bại, quan trọng là phải biết đứng lên. Dẫu gì vẫn còn tương lai phía trước, đừng vì một phút giây nông nổi gây nên tội ác tày trời, gieo tang thương cho người khác, hủy hoại bản thân mình.

Theo MINH TÂM (Tuổi Trẻ)

Phạm tội hồn nhiên

đăng 00:03 08-07-2009 bởi Văn Chí Nam

Thời gian gần đây các vụ án giao cấu với trẻ em xảy ra khá nhiều ở địa bàn tỉnh Kiên Giang. Thực trạng này là nỗi lo của những người có trách nhiệm, nhất là các bậc cha mẹ.

Trong câu chuyện dưới đây, bốn nhân vật đều là trẻ vị thành niên nhưng đã sống buông thả. N. (16 tuổi, ở xã Đông Hòa, huyện An Minh) rủ M. là người cùng xã đến nhà bạn trai của mình là C. chơi. Để có đôi có cặp,

C. giới thiệu cho M. làm quen với H.C., cũng 15 tuổi. Cả bốn cùng nhau đến huyện U Minh Thượng uống rượu tại một quán cà phê võng. Có lẽ đã ngầm hiểu ý nhau, sau khi cùng uống bia bốn đứa trẻ tách ra thành hai cặp, mỗi cặp ở một chòi lá. Sáng hôm sau cả nhóm tiếp tục đến nhà H.C. chơi và uống rượu.

Trong lúc quay cuồng với rượu và nhạc rock, M. đã làm quen với Lê Văn L. (anh ruột của H.C.), sinh năm 1988. Giống như kịch bản cũ, cả hai lại tách ra và trong đêm đó L. đã giao cấu với M. nhiều lần.

Hành vi giao cấu với trẻ em của Lê Văn L. bị phát giác và cơ quan điều tra Công an huyện An Biên đã tạm giam Lê Văn L. để điều tra và với tình tiết phạm tội nhiều lần, L. đang đối mặt với khung hình phạt 3-10 năm tù.

Khi L. bị bắt tạm giam, không chỉ người nhà của bị can mà cả những người cùng xóm đều ngạc nhiên. Một người đàn ông đứng tuổi còn đứng ra phân trần: “Chuyện của hai đứa nó lỡ thương nhau thì để người lớn tính chứ đâu có đến nỗi nào bắt bớ con người ta làm chi cho tội nghiệp”.

Đến khi nghe điều tra viên giải thích điều 115 Bộ luật hình sự quy định về tội giao cấu với trẻ em thì mọi người mới vỡ lẽ. Còn H.C. phải trốn chui trốn nhủi, đến lúc này mới dám ló mặt ra khi đã biết mình không phạm tội vì lúc giao cấu với M., H.C. chưa thành niên.

Trong nhiều trường hợp, cha mẹ của các nạn nhân - trong các vụ án tương tự - chỉ lo làm ăn, kiếm sống nên ít có thời gian tiếp xúc, chăm sóc con cái; không quan tâm đến con cái mình học hành, sinh hoạt ra sao... Thậm chí các em giao du với ai, đi chơi ở đâu, khi nào về cũng không biết cho đến khi sự việc đã trở nên quá muộn. Vì vậy không ai khác, chính các bậc cha mẹ bằng tình thương, trách nhiệm hãy bảo vệ tuổi thơ của con em mình được hồn nhiên, trong sáng.

 Điều 115 - Bộ luật hình sự 1999: tội giao cấu với trẻ em

1. Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị phạt tù 1-5 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 3-10 năm:

a) Phạm tội nhiều lần

b) Đối với nhiều người

c) Có tính chất loạn luân

d) Làm nạn nhân có thai

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỉ lệ thương tật 31-60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù 7-15 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỉ lệ thương tật từ 61% trở lên

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

Theo NHƯ CƯƠNG (Tuổi Trẻ)

Làm việc cho đơn vị nhà nước có được miễn nghĩa vụ quân sự?

đăng 23:59 07-07-2009 bởi Văn Chí Nam

Tôi đang công tác tại Trường cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng. Tôi rất phân vân về việc mình đang công tác cho một đơn vị trực thuộc giáo dục của nhà nước nhưng vẫn bị gọi nhập ngũ. Xin hỏi theo Luật nghĩa vụ quân sự thì tôi có được miễn hay không?

(Lý Gia Phú)

- Tư vấn của Luật sư Trịnh Văn Hiệp:

Điều 22 Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2005 quy định: 

1. Những công dân sau đây được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình: ... d) Giáo viên, nhân viên y tế, thanh niên xung phong đang làm việc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn; cán bộ, công chức, viên chức được điều động đến làm việc ở những vùng này.

2. Những công dân sau đây được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình: …d) Thanh niên xung phong, cán bộ, công chức, viên chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều 29 Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2005 đã phục vụ từ 24 tháng trở lên.

Khoản 7 Điều 3 Nghị định số 38/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ thời bình đối với công dân nam trong độ tuổi gọi nhập ngũ quy định những công dân nam sau đây được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình: … Cán bộ, viên chức, công chức quy định tại Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức, thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện, trí thức trẻ tình nguyện làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đang cư trú tại địa phương hoặc người địa phương khác được điều động đến làm việc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn có phụ cấp khu vực hệ số 0,5 trở lên, ở hải đảo có phụ cấp khu vực hệ số 0,3 trở lên.

Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 38/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định: Những công dân sau đây được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình: cán bộ, viên chức, công chức, thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện, trí thức trẻ tình nguyện quy định tại khoản 7 Điều 3 Nghị định số 38/2007/NĐ-CP đã phục vụ từ 24 tháng trở lên.

Chiếu theo quy định pháp luật trên thì hiện nay đối với nam công dân là cán bộ, viên chức, công chức quy định tại Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức (trong đó bao gồm cả giáo viên, nhân viên y tế), thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện, trí thức trẻ tình nguyện quy định tại khoản 7 Điều 3 Nghị định số 38/2007/NĐ-CP đang cư trú tại địa phương thuộc vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn có phụ cấp khu vực hệ số 0,5 trở lên, ở hải đảo có phụ cấp khu vực hệ số 0,3 trở lên hoặc người địa phương khác được điều động đến làm việc ở những vùng này thì mới được hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình. 

Còn đối với công dân là cán bộ, viên chức, công chức, thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện, trí thức trẻ tình nguyện quy định tại khoản 7 Điều 3 Nghị định số 38/2007/NĐ-CP đã phục vụ từ 24 tháng trở lên ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn có phụ cấp khu vực hệ số 0,5 trở lên, ở hải đảo có phụ cấp khu vực hệ số 0,3 trở lên thì mới được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình

Như vậy, trường hợp của bạn không thuộc diện được hoãn gọi nhập ngũ, miễn gọi nhập ngũ trong thời bình và việc ban chỉ huy quân sự phường gọi bạn nhập ngũ là đúng theo quy định của pháp luật về nghĩa vụ quân sự.

Luật sư TRỊNH VĂN HIỆP
(Văn phòng luật sư Gia Thành)
 
Theo Tuổi Trẻ

Bắt đầu từ 1-7-2009, nhiều chính sách mới có hiệu lực

đăng 09:03 28-06-2009 bởi Văn Chí Nam

Bắt đầu từ ngày 1-7-2009, nhiều chính sách mới, quan trọng sẽ có hiệu lực thi hành: Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Thi hành án dân sự, Luật Thi hành án dân sự, Bảo hiểm y tế, Giao thông đường bộ (sửa đổi), Công nghệ cao và Đa dạng sinh, Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

Tiếp tục khẳng định nguyên tắc một quốc tịch nhưng có trường hợp ngoại lệ

Luật quốc tịch Việt Nam có nhiều quy định mới thông thoáng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc,

Đảm bảo tính xuyên suốt, truyền thống của nguyên tắc một quốc tịch đồng thời áp dụng một cách mềm dẻo, giải quyết vướng mắc trong thực tiễn, Luật tiếp tục khẳng định nguyên tắc một quốc tịch, những trường hợp ngoại lệ có thể đồng thời có quốc tịch nước ngoài. Những trường hợp ngoại lệ là những trường hợp được Chủ tịch nước cho phép khi xin nhập quốc tịch Việt Nam, xin trở lại quốc tịch Việt Nam, trường hợp quốc tịch của trẻ em là con nuôi và trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn mong muốn giữ quốc tịch Việt Nam.

Luật quy định rõ người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 5 năm kể từ ngày Luật có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nơi người đó định cư để giữ quốc tịch Việt Nam. Với những người không quốc tịch đã cư trú ổn định lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật có hiệu lực thi hành mà tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam sẽ được nhập quốc tịch Việt Nam .

Nâng thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự lên 5 năm

Luật thi hành án (THA) dân sự là đạo luật mới nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ tục THA, xác định rõ địa vị pháp lý của cơ quan THA, phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra, tạo chuyển biến trong công tác THA dân sự.

Cơ bản kế thừa các quy định của Pháp lệnh năm 2004, Luật THA dân sự được bổ sung nhiều quy định mới trong đó các các vấn đề quan trọng như: Chấp hành viên có 3 ngạch gồm Chấp hành viên sơ cấp, trung cấp, cao cấp; việc bổ nhiệm Chấp hành viên phải thông qua thi tuyển, bỏ quy định hiện hành về việc bổ nhiệm Chấp hành viên theo nhiệm kỳ. Nâng thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự lên 5 năm ( thay vì 3 năm như trước) để đảm bảo quyền lợi của đương sự. Luật THA dân sự quy định theo hướng phân biệt rõ điều kiện để miễn và điều kiện để giảm THA.

Tạo điều kiện thuận lợi thực hiện xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sức khỏe nhân dân

Luật bảo hiểm y tế ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu khách quan của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và quá trình tiến tới bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Luật quy định cụ thể 24 nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm y tế và một nhóm đối tượng khác để Chính phủ tùy tình hình cụ thể quy định thêm nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm y tế (điều 12). Trong số 24 nhóm đối tượng được xác định cụ thể, 11 đối tượng được cấp thẻ BHYT từ nguồn ngân sách nhà nước bảo đảm ( trẻ em dưới 6 tuổi, người có công với cách mạng, cựu chiến binh, bảo trợ xã hội, người nghèo, người cao tuổi...).

 Luật xác định mức trần đóng bảo hiểm y tế là 6% và giao Chính phủ căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể để quy định mức đóng, hỗ trợ đối với từng nhóm đối tượng (điều 13).

Luật quy định, tùy theo điều kiện cụ thể, các nhóm đối tượng hưởng BHYT ở các tuyến sẽ được thanh toán chi phí chữa bệnh theo 3 mức ( 100%, 95%, 80%). Luật cũng quy định rõ 14 trường hợp không được hưởng BHYT ( điều 23 và 24). Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia BHYT trong việc lựa chọn cơ sở khám, chữa bệnh phù hợp với điều kiện lưu trú, làm việc, Luật quy định: Người tham gia bảo hiểm y tế có quyền đăng ký khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tại cơ sở khám, chữa bệnh tuyến xã, tuyến huyện hoặc tương đương; trừ trường hợp được đăng ký tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến tỉnh, hoặc tuyến Trung ương theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Bắt buộc đội mũ bảo hiểm đối với người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy

So với Luật năm 2001, Luật giao thông đường bộ (sửa đổi) bổ sung một số quy định về quy tắc GTĐB như đèn tín hiệu giao thông; dừng xe, đỗ xe trên đường; quy định cụ thể về độ tuổi trẻ em được chở thêm trên xe mô tô, xe gắn máy và xe đạp; bắt buộc đội mũ bảo hiểm đối với người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy; trách nhiệm của chính quyền địa phương nơi xảy ra tai nạn giao thông...) nhằm phù hợp với tình hình phát triển của xã hội, đảm bảo an toàn giao thông.

Luật GTĐB (sửa đổi) bổ sung quy định về việc đặt tên, số hiệu đường bộ, quy định cụ thể tỷ lệ quỹ đất giao thông đô thị so với đất xây dựng đô thị; bổ sung quy định về công tác thẩm định an toàn giao thông đối với công trình đường bộ, việc xây dựng công trình giao thông cho người đi bộ, người khuyết tật; quy định cụ thể việc đấu nối, xây dựng đường gom để đảm bảo an toàn giao thông cho hệ thống quốc lộ..

Luật giao thông đường bộ (sửa đổi) bổ sung quy định về các loại giấy tờ mà người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông phải mang theo; bổ sung quy định về phạm vi sử dụng của giấy phép lái xe, trình độ văn hóa tối thiểu của người có nhu cầu được đào tạo nâng hạng giấy phép lái xe lên hạng D; nâng độ tuổi của người lái xe ô tô khách, nâng hạng giấy phép lái xe đối với lái xe kéo sơ mi rơ mooc (chương V).

Luật giao thông đường bộ (sửa đổi) quy định chặt chẽ điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô, đặc biệt quy định việc gắn thiết bị giám sát hành trình của phương tiện kinh doanh vận tải; bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh vận tải, người lái xe và nhân viên phục vụ trên ô tô vận tải hành khách, hành khách, người thuê vận tải, người nhận hàng...

Bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học

Luật Đa dạng sinh học gồm 8 chương và 78 điều quy định về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học; quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân, gia đình và cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học.

Luật Đa dạng sinh học thể chế hóa các chủ trương của Đảng,đảm bảo thống nhất quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học trên cơ sở phân công, phân cấp rõ ràng, hợp lý giữa các cơ quan Trung ương, giữa Trung ương và địa phương. Luật Đa dạng sinh học được xây dựng trên nguyên tắc quan tâm đến lợi ích của các bên liên quan trong bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học trên cơ sở công bằng và bình đẳng trước pháp luật. Công tác bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học thực hiện theo hướng thúc đẩy và hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo.

Tạo bước đột phá trong ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao

Luật Công nghệ cao đã thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh, vững chắc và thông thoáng cho hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ cao( CNC), đặc biệt là chính sách coi đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ cao là giải pháp đặc biệt có tính đột phá nhanh chóng nâng cao năng xuất, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, các ngành kinh tế - kỹ thuật và của toàn nền kinh tế Việt Nam.

Luật Công nghệ cao tạo bước thống nhất việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực CNC, tạo bước đột phá trong ứng dụng, nghiên cứu và phát triển CNC phục vụ cho yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa va hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Quy định về các loại án phí, lệ phí Tòa án

Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án gồm 6 chương, 52 điều, quy định về các loại án phí, lệ phí Tòa án đối với người bị kết án, đương sự trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính; mức án phí, lệ phí Tòa án; nguyên tắc thu, nộp; điều kiện, thủ tục miễn; những trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án; nghĩa vụ nộp án phí, lệ phí Tòa án; cơ quan có thẩm quyền thu; xử lý tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án; giải quyết khiếu nại về án phí, lệ phí Tòa án.

Theo TTXVN

Biên tập clip trên mạng để giảng dạy được không?

đăng 16:27 10-06-2009 bởi Văn Chí Nam

Tôi là giảng viên khoa địa lý Trường đại học Đồng Tháp. Tôi đăng ký đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường về “biên tập, thiết kế video giáo khoa phục vụ dạy học địa lý lớp 11 nâng cao”, mục tiêu cơ bản là tải những đoạn video trên mạng xuống, biên tập lại thành từng đoạn nhỏ (2-3 phút) với nội dung phù hợp với sách giáo khoa địa lý 11. Xin hỏi: việc tải về và biên tập lại những đoạn phim trên mạng có vi phạm Luật bản quyền không? NGUYỄN THANH TÂM

- Việc tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân; trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình; trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại thuộc các trường hợp được sử dụng tác phẩm đã công bố mà không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo điều 25 Luật sở hữu trí tuệ.

Tuy nhiên, việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp nêu trên không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và phải thông tin về tên tác giả, nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

Ngoài ra, theo khoản 2 và 3 điều 10 công ước Berne thì khi sử dụng tác phẩm để trích dẫn, minh họa cho mục đích giảng dạy không cần có sự cho phép của tác giả và không phải trả thù lao cho tác giả, miễn sao việc sử dụng đó phù hợp với thông lệ đúng đắn, và phải ghi rõ nguồn gốc tác phẩm và tên tác giả (nếu có).

Do đó, nếu việc bạn trích dẫn các đoạn video đã được công bố trên các website để minh họa cho công trình nghiên cứu khoa học phục vụ mục đích giảng dạy mà thuộc các trường hợp trên thì không cần có sự cho phép của tác giả và không phải trả thù lao cho tác giả. Tuy nhiên, bạn nhớ là phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của các đoạn video mà bạn trích dẫn trong công trình nghiên cứu khoa học của mình.

Theo Luật sư NGUYỄN BẢO TRÂM (Tuổi Trẻ)

Vĩnh Long: bắt khẩn cấp một đối tượng lừa đảo qua mạng

đăng 17:17 04-06-2009 bởi Văn Chí Nam

Ngày 4-6, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long cho biết đã bắt khẩn cấp Võ Thị Vi Anh (sinh năm 1985, ngụ số tại P.1, TP Vĩnh Long) về hành vi "lừa đảo chiếm đoạt tài sản", với hình thức mua bán hàng qua mạng internet.

Khám xét 2 nơi ở của Anh, lực lượng Công an thu giữ 2 điện thoại di động, 2 giấy nộp tiền vào các ngân hàng VP Bank và Vietcombank, 2 giấy yêu cầu rút tiền tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Cần Thơ, 1 bảng tổng hợp cước viễn thông tháng 4-2009 (do người khác đứng tên) và lá thư của một nạn nhân tên N.H.P. ở Hà Nội đã từng bị lừa do ham mua điện thoại di động giá rẻ của Anh.

Hiện nay, Cơ quan điều tra Công an Vĩnh Long đã tiếp nhận đơn thư tố cáo của trên 10 nạn nhân đang sinh sống ở TP.HCM, Hà Nội và một số nơi khác. Số tiền bị lừa đảo qua các phi vụ "mua, bán" của Anh là trên 500 triệu đồng.

Được biết số tài khoản mà Anh dùng để lừa đều mang tên người khác, còn số điện thoại Anh sử dụng để nhắn tin số tài khoản cho các khách hàng đều mất liên lạc ngay sau đó. Hiện Anh đang bị Công an Vĩnh Long tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra.

Theo VĨNH TRÀ (Tuổi Trẻ)

Phát tờ rơi, bị phạt hành chính

đăng 08:25 03-06-2009 bởi Văn Chí Nam

Tôi là sinh viên nghèo, phát tờ rơi ở Khu chế xuất Tân Thuận, Q.7, TP.HCM bị bảo vệ bắt và giao cho dân quân. Sau đó, dân quân đã chuyển tôi lên UBND phường và phạt 200.000 đồng. Họ nói nếu không có tiền nộp phạt sẽ giữ xe của tôi?- Lê Hữu Tấn

- Theo khoản 6, điều 4 quyết định số 108/2002/QĐ-UB ngày 25-9-2002 của UBND TP.HCM thì cấm phát tán ngoài đường các loại tờ gấp, tờ rơi quảng cáo. Các loại tờ này chỉ được phát tại nơi bán hàng, trưng bày và giới thiệu sản phẩm, treo dán tại những vị trí đã được quy định. Theo điều 16 của quyết định này thì tổ chức, cá nhân VN và nước ngoài tại VN khi thực hiện quảng cáo trên địa bàn TP.HCM có hành vi vi phạm pháp luật về quảng cáo và vi phạm nội dung quy định này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Với hành vi trên, bạn có thể bị phạt cảnh cáo hoặc bị phạt tiền từ 50.000-100.000 đồng đối với mỗi tờ rơi quảng cáo không đúng nơi quy định (khoản 1, điều 50 nghị định 56/2006/NĐ-CP ngày 6-6-2006). Còn nếu tờ rơi mà bạn phát là để quảng cáo hàng hóa, dịch vụ thuộc loại cấm quảng cáo thì bạn có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000-500.000 đồng đối với mỗi tờ rơi đó (khoản 1, điều 51 nghị định 56).

Theo khoản 1, điều 46; khoản 3, điều 57 pháp lệnh 04/2008/PL-UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, trong trường hợp để xác minh tình tiết làm căn cứ quyết định xử lý hoặc ngăn chặn ngay vi phạm hành chính, người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Người có thẩm quyền cũng có thể tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm trong trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm mà những người này không có các giấy tờ như: giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy phép lái xe hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan để đảm bảo việc chấp hành quyết định xử phạt.

Như vậy, nếu UBND phường làm đúng thủ tục về xử phạt vi phạm hành chính: có biên bản xử phạt và có quyết định xử phạt, áp dụng đúng điều khoản xử phạt thì việc phạt tiền như bạn đã nêu là có cơ sở. Nếu xe của bạn được xác định là phương tiện vi phạm hành chính thì việc tạm giữ xe để đảm bảo việc xử lý vi phạm hành chính là có cơ sở.

Trong trường hợp có căn cứ cho rằng quyết định xử lý vi phạm hành chính của UBND phường là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì theo điều 74 nghị định 56, điều 1, điều 30, điều 31 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998, bạn có quyền khiếu nại người đã ra quyết định hành chính. Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính mà người khiếu nại cho là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nếu có những trở ngại khách quan khác mà bạn không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu, thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Theo Luật sư NGUYỄN BẢO TRÂM (Tuổi Trẻ)

CSGT mặc thường phục không được dừng xe, xử lý vi phạm

đăng 19:02 02-06-2009 bởi Văn Chí Nam

Đại tá Vũ Đỗ Anh Dũng  - phó cục trưởng Cục CSGT đường bộ, đường sắt
Sau khi Bộ Công an ban hành thông tư số 27 ngày 6-5-2009 quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát của cảnh sát giao thông (CSGT) đường bộ, nhiều bạn đọc thắc mắc, lo lắng về hoạt động của CSGT mặc thường phục. Về vấn đề này, đại tá Vũ Đỗ Anh Dũng  - phó cục trưởng Cục CSGT đường bộ, đường sắt - cho biết:

- Qua các ý kiến bạn đọc, Cục CSGT đường bộ, đường sắt thấy rằng do chưa được tiếp cận cụ thể với thông tư 27 nên bạn đọc hiểu chưa đúng quy định “Tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang”.

Theo quy định tại thông tư 27, khi tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang được bố trí một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong tổ tuần tra, kiểm soát để hóa trang (mặc thường phục) nhằm giám sát tình hình trật tự giao thông, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trên phạm vi tuyến, địa bàn phân công.

Việc bố trí cán bộ, chiến sĩ hóa trang được thực hiện trong hai trường hợp gồm: khi cần bí mật sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phải có phương án, kế hoạch được trưởng phòng CSGT hoặc trưởng công an cấp huyện trở lên phê duyệt; để phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, khi tình hình an ninh trật tự hoặc trật tự an toàn giao thông phức tạp, phải có phương án, kế hoạch được cục trưởng Cục CSGT đường bộ, đường sắt hoặc giám đốc công an cấp tỉnh trở lên phê duyệt.

Trường hợp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và khi tình hình an ninh, trật tự hoặc trật tự an toàn giao thông phức tạp, ở đây được hiểu là các vi phạm: đua xe trái phép, xe không mang biển số, gắn biển số giả... (đã phát hiện nhiều vụ xe không mang biển số, gắn biển số giả để hoạt động tội phạm trốn tránh sự kiểm soát; sử dụng xe đó đi cướp, cướp giật, đua xe có tổ chức...), khi lực lượng CSGT phát hiện, kiểm soát, đối tượng đã tìm mọi cách để chống trả quyết liệt, hoặc bỏ chạy khi CSGT truy đuổi và như vậy sẽ xuất hiện những tình huống rất nguy hiểm cho người đi đường.

* Như vậy, khi tuần tra kiểm soát công khai hết hợp với hóa trang, lực lượng CSGT mặc thường phục có được phép xử lý các vi phạm?

- Thông tư 27 quy định rõ “khi phát hiện có vi phạm, cán bộ chiến sĩ tuần tra, kiểm soát thực hiện việc lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định”. Như vậy, cảnh sát khi hóa trang làm nhiệm vụ không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, mà thực hiện nhiệm vụ phát hiện vi phạm và phối hợp với lực lượng cảnh sát công khai phát hiện, kiểm tra và xử lý theo quy định của pháp luật.

Việc thực hiện nhiệm vụ của lực lượng cảnh sát hóa trang phải kết hợp với tuần tra, kiểm soát công khai và nằm trong hai trường hợp cụ thể nêu trên, không có quy định cho CSGT mặc thường phục được xử lý vi phạm.

* Người dân lo ngại kẻ xấu giả danh lực lượng CSGT mặc thường phục phạm tội, làm sao có thể phân biệt thật giả?

- Như trên đã nói, lực lượng CSGT hóa trang chỉ được hoạt động khi kết hợp với tuần tra kiểm soát công khai và phải có kế hoạch cụ thể được cấp có thẩm quyền phê duyệt. CSGT hóa trang chỉ phát hiện vi phạm, không được dừng xe để kiểm soát, không được xử lý vi phạm nên đây không phải kẽ hở để tội phạm có thể lợi dụng. Chỉ lực lượng công khai mới được dừng xe, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.

MINH QUANG thực hiện
Theo Tuổi Trẻ

‹ Trước đó    1-10 trong tổng số 13    Tiếp theo ›

  Sign in   Recent Site Activity   Terms   Report Abuse   Print page  |  Powered by Google Sites